Bỏ qua Lệnh Ruy-băng Bỏ qua nội dung chính
Danh bạ
Hình ảnh liên kết
Liên kết website trong tỉnh
Liên kết website các tỉnh
Lượt truy cập

 

 Tập san

 
Số 4/2019 : Đại thắng mùa Xuân 1975: Thắng lợi từ sức mạnh tổng hợp của dân tộc

         VŨ TRUNG KIÊN -  TRỊNH THỊ PHƯỢNG                                                      

Ngày 30-4-1975, hai miền Nam Bắc Việt Nam thống nhất, kết thúc 21 năm đất nước Việt Nam bị chia cắt thành hai miền. Thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam năm 1975 là chiến thắng của khát vọng thống nhất và hòa bình. Để đi tới thắng lợi này, Nhân Dân Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc đã phải chịu rất nhiều mất mát, hi sinh. Thắng lợi vĩ đại ngày 30-4-1975 thu non sông về một mối là thắng lợi từ sức mạnh tổng hợp của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Bài viết này sẽ đi vào phân tích và lý giải các nguyên nhân đưa đến thắng lợi vĩ đại này để từ đó có những gợi mở cho những người nghiên cứu và các nhà chính trị, quân sự cùng suy ngẫm và rút ra các bài học cho mai sau.

1. Cuộc chiến đấu của toàn dân và được nhân dân ủng hộ

Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất không thể chia cắt, hai miền Nam Bắc Việt Nam là một và không thể chia cắt. Trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ nước ta, họ đã chia cắt đất nước ta thành các miền khác nhau. Sau khi Việt Nam giành được độc lập năm 1945, người Pháp vẫn chưa từ bỏ mưu đồ chia cắt Việt Nam khi thành lập cái gọi là Nam Kỳ quốc với mưu đồ tách Nam Bộ khỏi Việt Nam. Sau Hiệp định Genéve, mưu đồ này lại tiếp tục được sử dụng, nhưng cuối cùng khát vọng thống nhất đã chiến thắng âm mưu chia cắt. Có thể khẳng định rằng: chính khát vọng thống nhất đất nước là động lực lớn nhất để đại bộ phận người dân Việt Nam quyết tâm, đồng lòng tham gia với ý chí mạnh mẽ không gì lay chuyển nổi đi đến ngày thống nhất đất nước 30-4-1975. Bằng đường lối đúng đắn của mình, Đảng Lao động Việt Nam đã quy tụ và phát huy tối đa sức mạnh của toàn dân để thực hiện khát vọng thống nhất và hòa bình. Với mục tiêu thống nhất đất nước, giải phóng dân tộc, lớp lớp thanh niên ưu tú đã xếp bút nghiên lên đường, những người bà, người mẹ, người chị ở khắp mọi nơi đã trở thành hậu phương, thành chỗ dựa tinh thần vững chắc cho những người trên trận tuyến. Hậu phương lớn miền Bắc đã chi viện cho chiến trường lớn miền Nam với tinh thần “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” và “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Sức mạnh vĩ đại tạo nên chiến thắng này đã một lần nữa được Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đúc kết trong bài phát biểu kỷ niệm 35 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước: “Trong những năm tháng kháng chiến trường kỳ vì miền Nam ruột thịt, quân và dân miền Bắc vừa xây dựng vừa chiến đấu bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đồng thời sẵn sàng chi viện, đáp ứng mọi nhu cầu của tiền tuyến. Ở miền Nam - Thành đồng Tổ quốc, dù phải chịu sự đàn áp dã man, tàn bạo của địch, nhưng với ý chí quật cường, bất khuất, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo miền Nam một lòng, một dạ đi theo cách mạng, tin tưởng sắt đá vào sự lãnh đạo của Đảng, của Hồ Chủ tịch, vào sự nghiệp thống nhất đất nước, anh dũng chiến đấu, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác[1]”.

2. Chiến thắng của tinh thần đại đoàn kết dân tộc

Tư tưởng về một đất nước thống nhất là tư tưởng nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, bởi vậy, ngay trong Chánh cương vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày thành lập Đảng 03-02-1930 đã thể hiện rõ nét quan điểm này: “Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập[2]”. Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 02-9-1945, long trọng tuyên bố với toàn thể nhân dân trong nước và toàn thế giới về tính toàn vẹn, thống nhất của quốc gia của nước Việt Nam khi khẳng định toàn thể dân tộc Việt Nam sẽ đem tất cả tính mệnh, của cải để giữ vững nền độc lập, tự do của Tổ quốc: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy[3]”. Trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc khi thực dân Pháp núp bóng quân đồng minh trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ 2, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chúng tôi trịnh trọng tuyên bố rằng nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hòa bình. Nhưng nhân dân chúng tôi cũng kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước[4]”. Với tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do[5]”.

bdcl.jpg
Bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang tiếp quản cơ quan hành chính biên hòa ngày 30-4-1975

Ngay khi về nước lãnh đạo cách mạng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã thành lập Việt Minh để quy tụ tất thảy các giới đồng bào. Bằng việc giành độc lập cho dân tộc năm 1945, uy tín của Việt Minh đã được nhân dân thừa nhận. Vì vậy, trong suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhân dân Việt Nam đã đồng lòng nhất trí đi theo Mặt trận Việt Minh. Từ mô hình đoàn kết, tập hợp nhân dân của Mặt trận Việt Nam đã giành được độc lập cho dân tộc, trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam, một mặt trận mới lại tiếp tục được thành lập, đó là Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập vào ngày 20-12-1960. Ngay khi ra đời, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã quy tụ xung quanh mình tất cả các giai cấp, dân tộc, đảng phái với mục đích chống lại chính quyền Việt Nam Cộng hòa và sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Việt Nam, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước. Đại hội lần thứ nhất Mặt trận ngày 16-02-1962 tại Tân Biên - Tây Ninh đã long trọng tuyên bố Chương trình của Mặt trận: "Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, dân tộc Việt Nam ta đã chiến đấu không ngừng cho độc lập và tự do của Tổ quốc. Năm 1945, đồng bào cả nước đã đứng lên đánh đổ Nhật - Pháp giành chính quyền và đã anh dũng kháng chiến 9 năm, đánh bại xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ, đưa cuộc kháng chiến oanh liệt của dân tộc ta đến thắng lợi vẻ vang.Tại hội nghị Giơ ne vơ tháng 7-1954, đế quốc Pháp buộc phải cam kết rút quân khỏi Việt Nam và các nước tham dự hội nghị đều trịnh trọng tuyên bố công nhận chủ quyền, độc lập thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam...Vì quyền lợi tối cao của Tổ quốc, quyết phấn đấu đến cùng cho những nguyện vọng chính đáng của nhân dân, thuận theo trào lưu tiến bộ của thế giới, Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam ra đời.Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam chủ trương đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo, các nhân sĩ yêu nước ở miền Nam Việt Nam không phân biệt xu hướng chính trị để đấu tranh đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tập đoàn tay sai của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, thực hiện độc lập, dân chủ, cải thiện dân sinh, hòa bình trung lập ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất tổ quốc...Vì hòa bình, độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc, vì vận mạng của dân tộc, vì đời sống của chúng ta, vì tương lai của ta và con cháu ta. Tất cả hãy đứng lên !Tất cả hãy đoàn kết lại! Hãy xiết chặt hàng ngũ, tiến lên chiến đấu dưới ngọn cờ của Mặt Trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam để đánh đổ ách thống trị tàn ác của đế quốc Mỹ và tay sai Ngô Đình Diệm để cứu nước, cứu nhà[6]”.

19_393701.jpg
Sân bay Biên Hòa sau trận pháo kích của Quân Giải phóng tháng 4-1975

Nguyện vọng giành độc lập và thống nhất đất nước, sự ủng hộ của đa số nhân dân đã trở thành yếu tố quyết định giúp Việt Nam thắng lợi dù thế yếu hơn rất nhiều về trang bị quân sự. Người Mỹ thất bại bởi họ đã không hiểu Việt Nam, không hiểu nền văn hóa và sức mạnh của dân tộc Việt Nam, không hiểu rằng cuộc chiến đấu này là cuộc chiến đấu của toàn dân và mỗi người dân đều là một chiến sĩ. Tất cả mọi người dân Việt Nam khi đứng lên cầm súng chiến đấu đều nghĩ rằng mình đang chiến đấu vì lẽ phải, chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, nhân dân, làng mạc, gia đình. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara, "kiến trúc sư" cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam trong cuốn hồi ký mang tựa đề "Hồi tưởng" xuất bản năm 1995 đã thừa nhận 11 sai lầm mà Mỹ đã mắc phải trong cuộc chiến tranh này; trong đó có những đánh giá thấp về tinh thần độc lập, tự chủ và sức mạnh Việt Nam: “Chúng ta xem xét nhân dân và lãnh đạo của miền Nam Việt Nam chỉ bằng trải nghiệm của chúng ta...Chúng ta đánh giá sai hoàn toàn những lực lượng chính trị trong đất nước đó. Chúng ta đánh giá thấp sức mạnh của tinh thần dân tộc có thể huy động nhân dân đấu tranh và hy sinh vì đức tin và giá trị của họ. Cách nhìn nhận của chúng ta về bạn và thù phản ánh sự dốt nát sâu sắc của chúng ta về lịch sử, văn hoá và chính trị của nhân dân Việt Nam, cũng như về nhân cách và tập quán của các nhà lãnh đạo của họ…[7]”. Để trả lời câu hỏi vì sao một đất nước tương đối nhỏ bé và lạc hậu về công nghệ lại có thể đánh thắng hai cường quốc là Pháp và MỹPino Tagliazucchi, nhà nghiên cứu người Ý, cố tìm một điều gì đó không liên quan đến khoa học quân sự cổ điển..."rồi kết luận rằng đó chính là: lịch sử và văn hoá của dân tộc Việt Nam, và cuộc đấu tranh vì độc lập là của tất cả mọi người[8]”.

3. Nghệ thuật vừa đánh vừa đàm và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế và người dân Mỹ

Vào lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, tháng 12-1965, Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết Trung ương 12, trong đó chỉ rõ “đánh đến một lúc nào đó sẽ vừa đánh vừa đàm” nhưng nhận định “tình hình chưa chín muồi cho một giải pháp”. Để gây sức ép với Việt Nam trên bàn đàm phán, ngày 28-12-1972, Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon bắt đầu cho máy bay B52 ném bom rải thảm Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh lân cận, đồng thời phía Mỹ cũng gửi công hàm cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề nghị họp lại. Mưu đồ của phía Hoa Kỳ là dùng quân sự đánh phá gây thiệt hại để ép Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên bàn đàm phán. Đây là một tính toán của Hoa Kỳ nhưng nó đã không nằm ngoài dự liệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi trước đó Người đã tiên đoán: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua[9]”. Thất bại liên tiếp trên chiến trường miền Nam, tổn thất nặng nề khi ném bom bắn phá miền Bắc và bị dư luận quốc tế lên án và phản đối, ngày 29-12-1972, Hoa Kỳ tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc và ngồi vào bàn đàm phán.

dt_2042017849_3a.jpg
Chỉ huy Trung đoàn 3 (Sư đoàn 304) bàn phương án tác chiến trong Chiến dịch Xuân Lộc 

Ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris "về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam" được ký kết. Đây là một thắng lợi lịch sử trong đấu tranh ngoại giao của Việt Nam. Đây cũng là thắng lợi của sức mạnh tổng hợp của dân tộc Việt Nam cả trên chiến trường, cả trên bàn đàm phán và cả từ sức mạnh và sự giúp đỡ to lớn của bạn bè quốc tế, của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài...Việc ký kết Hiệp định Paris là bước đầu tiên trong mục tiêu giải phóng, thống nhất đất nước và tạo tiền đề quan trọng để toàn dân Việt Nam tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Về vấn đề này, khi trả lời một nhà bình luận Đài Truyền hình Hoa Kỳ nhân kỷ niệm 10 năm giải phóng miền Nam, ông Phạm Văn Đồng, Thủ tướng Việt Nam khẳng định: “Hiệp định Paris mở đường cho thắng lợi vĩ đại mùa Xuân 1975, kết thúc hơn một thế kỷ đô hộ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước chúng tôi, đem lại độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc chúng tôi[10]”.

Trên trường quốc tế, uy tín của Mỹ cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Làn sóng phản đối chiến tranh, đòi Mỹ ngồi vào bàn đàm phán tăng mạnh. Ngày 14-5-1968, trong bài phát biểu tại Trường Đại học Alberta (Canada) ngài U. Thant - Tổng thư ký Liên hiệp quốc đã “tỏ rõ lập trường ủng hộ quan điểm của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ thực hiện một cuộc ngưng oanh tạc toàn diện vô điều kiện miền Bắc[11]”. Lãnh đạo nhiều nước trên thế giới bằng cách này hay cách khác bày tỏ sự ủng hộ đối với Việt Nam từ Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Tư, Anlgéri, Tanzania…Trong Hồi ký của mình, bà Nguyễn Thị Bình cho biết khi bà tới thăm Ấn Độ theo lời mời của Thủ tướng Ấn Độ, Lãnh sự của chính quyền Sài Gòn ở Ấn Độ đã phản đối. Chính phủ Ấn Độ trả lời chính thức “Mời ai là quyền của chúng tôi[12]”. Đảng Đảng Cộng sản Pháp (PCF), một lực lượng chính trị rất mạnh ở Pháp lúc bấy giờ. Ngoài sự giúp đỡ vật chất rất to lớn cho hai đoàn Việt Nam tham gia đàm phán còn tích cực trong việc tập hợp các lực lượng chính trị và nhân dân Pháp ủng hộ các cuộc kháng chiến của ta và phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ; làm cầu nối giữa Việt Nam và Pháp vì hai nước lúc bấy giờ chưa có quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ. 

Cùng với ngoại giao bằng con đường Chính phủ, mặt trận ngoại giao nhân dân đã được tận dụng triệt để. Hồi ký của bà Nguyễn Thị Bình cho biết: “Bất cứ nước nào mời, tổ chức nào mời là chúng tôi tranh thủ đi, ở Pháp, Mỹ, châu Phi hay châu Mỹ, tận dụng mọi cơ hội để tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân, các đảng phái chính trị và các chính phủ…[13]”. Trong quá trình diễn ra đàm phán, Việt Nam đã đã tạo dựng được một mặt trận nhân dân thế giới, đoàn kết tất cả các lực lượng chính trị tiến bộ trên thế giới, kể cả những thành phần không thuộc phe cộng sản hoặc thậm chí không ưa cộng sản, ủng hộ của đấu tranh chính nghĩa của mình. Cộng đồng người Việt đông đảo ở Paris đã luôn ủng hộ cuộc kháng chiến của dân tộc, trong đó có rất nhiều sinh viên đi từ miền Nam sang Pháp du học, thậm chí được hưởng học bổng của Chính quyền Sài Gòn, đóng góp của cộng đồng người Việt tại Pháp là vô cùng to lớn. Đông dảo người dân Mỹ tiến bộ cũng như đông đảo nhân dân tiến bộ trên thế giới đã tổ chức nhiều cuộc tuần hành để ủng hộ công cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Trong Hồi ký Gia đình, bạn bè và đất nước, Bà Nguyễn Thị Bình đã không khỏi xúc động cho biết trong suốt thời gian đám phán ở Pháp, cả hai đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã được Đảng Cộng sản Pháp và bà con Việt Kiều giúp đỡ rất tận tình: “Tôi muốn nói lời cảm ơn sâu sắc bà con Việt Kiều tại Pháp và các nước xung quanh, cảm ơn bạn bè quốc tế đã hết lòng vì cuộc chiến đấu của chúng ta…[14]”. Khi nhớ về giây phút xúc động khi đặt bút ký vào bản hiệp định lịch sử ngày 27-01-1973, bà Nguyễn Thị Bình bồi hồi và “vô cùng xúc động, nghĩ đến đồng bào, đồng chí, đến bạn bè ở cả hai miền Nam Bắc… (…) là ân tình sâu đậm mà cả thế giới giành cho cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân ta[15]”.

4. Nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Đảng và Nhà nước Việt Nam, bằng những chủ trương, chính sách của mình đã huy động và động viên được nhân dân cả nước không chỉ đóng góp sức người, sức của cho hoạt động chiến đấu của các lực lượng vũ trang, mà còn trực tiếp tham gia chiến đấu. Ở miền Bắc, đó là những hoạt động phòng thủ dân sự, phục vụ chiến đấu và vũ trang chiến đấu, tạo lưới lửa phòng không nhiều tầng và rộng khắp chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ. Ở miền Nam, đó là sự che chở, nuôi giấu lực lượng du kích, những đội biệt động thành thị của mọi tầng lớp nhân dân.

Ở miền Bắc, thế trận phòng không nhân dân được xây dựng nhiều tầng và rộng khắp, có phương án hiệp đồng và bảo đảm chu đáo chuẩn bị kỹ cả thế phòng tránh (tức trận địa phòng không nhân dân) và thế đánh trả (các trận địa); phân công các binh chủng hỏa lực hợp với sở trường và tính năng vũ khí; kết hợp vừa chiến đấu, vừa duy trì sản xuất, vừa bảo đảm chi viện cho chiến trường…Ở miền Nam, thế trận "toàn dân đánh giặc, "kết hợp hai chân, ba mũi, ba vùng", nối thông giữa vùng tự do, căn cứ địa và vùng địch hậu. Khi trả lời một nhà báo nước ngoài, Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “Cuộc chiến tranh này không phải chỉ là sự đối chọi giữa những thiết bị tối tân nhiều hay tối tân ít. Nó còn là sự đối chọi giữa những khối óc. Mỹ đã huy động những trí tuệ thông thái nhất, những nhân vật có năng lực nhất trong quân đội, trong bộ máy hành chính và các trường đại học. Họ có những bộ óc rất cừ, nhưng những bộ óc đó không được sử dụng tốt bởi vì bị đưa vào một cuộc chiến tranh mà người ta thấy trước là họ sẽ thua. Họ đã dựng lên một bộ máy hùng mạnh, nhưng bộ máy ấy thế nào cũng thất bại... Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh này với tất cả những phương tiện khoa học mà họ có thể có trong tay. Nhưng với phương tiện mà chúng tôi có, chúng tôi tiến hành cuộc chiến tranh này một cách khoa học, ngay cả khi trang bị của chúng tôi chỉ ở mức trung bình... Không phải chỉ cần có trong tay những phương tiện tiên tiến về kỹ thuật là đủ để cho chiến tranh được tiến hành một cách khoa học. Nhận thức của chúng tôi về chiến tranh là khoa học bởi vì chúng tôi chiến đấu trên mảnh đất của chúng tôi, vì những mục tiêu của chính chúng tôi và những phương pháp của riêng chúng tôi. Vì lẽ đó mà mặc dù có cả một bộ máy khoa học, kẻ địch đã bị thua chạy. Chính chúng tôi là những người nắm quyền chủ động[16]”.

Có lẽ nghệ thuật quân sự Việt Nam nằm ở giải thích đầy tính thuyết phục và nhân văn của vị Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, khi giải thích về chiến thắng của Nhân Dân Việt Nam trước một đối thủ mạnh hơn về trang bị, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Nghệ thuật quân sự của chúng tôi, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng tôi đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa anh hùng Cách mạng[17]”. Về nghệ thuật quân sự Việt Nam đưa tới chiến thắng này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng khẳng định: “Chúng tôi trả lời là từ "lo sợ" không có trong tư duy quân sự của chúng tôi, bởi vì với chúng tôi, không có gì quý hơn độc lập tự do, chúng tôi quyết đánh Mỹ và chúng tôi luôn tin tưởng là sẽ thắng[18]”.

Ngoài ra, với thắng lợi này còn phải kể tới rất nhiều các nguyên khác như: Phong trào phản chiến ngay trong lòng nước Mỹ; những hình mẫu tiêu biểu của các nhà lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (sau là Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam)…là động lực để quy tụ sức mạnh tổng hợp lôi cuốn người dân tham gia vào công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

KẾT LUẬN: Năm 1968 là năm mà quân đội Mỹ hiện diện ở chiến trường miền Nam cao nhất khi tổng số quân gấp gần 4 lần số quân của phía Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Không những thế, tương quan về trang bị vũ khí hiện đại cũng rất lớn. Tuy nhiên, chiến thắng cuối cùng đã thuộc về Nhân Dân Việt Nam. Đâu là nguyên nhân đưa đến sự thắng lợi vĩ đại này là điều mà sau hơn 40 năm, giới nghiên cứu, giới quân sự cả trong và ngoài nước đều quan tâm và tìm cách lý giải. Công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay đang đặt ra những thời cơ và thách thức mới với những nhiệm vụ to lớn nặng nề hơn. 44 năm sau ngày 30-4-1975, thời gian càng lùi xa, những vấn đề của lịch sử càng có điều kiện tốt hơn để đánh giá, xem xét lại. Và, bài viết này cũng là để góp một phần nhỏ trong công việc này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Nguyễn Thị Bình (2012), Gia đình, bạn bè, đất nước, Nxb Tri thức.

2. Phạm Văn Đồng (1972), Trả lời phỏng vấn nhà báo Pháp Cờlốt Guyliêng (Claude Julien) của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngày 18-5-1972, (dẫn lại theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia).

3. Trần Bạch Đằng chủ biên (1993) Chung một bóng cờ (Về Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

4. Hồ Chí Minh (1990), Biên niên sự kiện và tư liệu quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

5. Hồ Chí Minh (1995), toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 3.

6. Hồ Chí Minh (1995), toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 4.

7. Hồ Chí Minh (1996), toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 12.

8. Indochina People's War in Colour. History Channel, tập 2 (dẫn lại theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia).

9. Robert McNamara (2005), “11 sai lầm của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam”, Báo Dân trí, ngày 22-4-2005, https://dantri.com.vn/the-gioi/robert-mcnamara-11-sai-lam-cua-my-trong-chien-tranh-viet-nam-1114080191.htm

10. http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Cuoc-doi-thoai-lich-su-Tuong-Giap-va-Nguyen-Bo-truong-QP-My-post12095.gd

11. https://www.tienphong.vn/xa-hoi/toan-van-dien-van-ky-niem-35-nam-giai-phong-mien-nam-192912.tpo

12. https://vietnamnet.vn/vn/tin-noi-bat/nghi-ve-dao-ly-dan-toc-70376.html

 

 

 



(*) Học viện Chính trị khu vực II.

(**) Học viện Chính trị khu vực II.

[1] https://www.tienphong.vn/xa-hoi/toan-van-dien-van-ky-niem-35-nam-giai-phong-mien-nam-192912.tpo

[2] Hồ Chí Minh (1995), toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 3, tr. 01

[3] Hồ Chí Minh (1995), toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 4, tr. 03

[4] Hồ Chí Minh (1995), toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 4, tr. 469

[5] Hồ Chí Minh (1996), toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 12, tr. 108

[6] Trần Bạch Đằng chủ biên (1993) Chung một bóng cờ (Về Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 958-962

[7] Robert McNamara (2005), “11 sai lầm của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam”, Báo Dân trí, ngày 22-4-2005, https://dantri.com.vn/the-gioi/robert-mcnamara-11-sai-lam-cua-my-trong-chien-tranh-viet-nam-1114080191.htm

[8] Nghĩ về đạo lý dân tộc (2012), Vietnam net ngày 30-4-2012, https://vietnamnet.vn/vn/tin-noi-bat/nghi-ve-dao-ly-dan-toc-70376.html

[9] Hồ Chí Minh (1990), Biên niên sự kiện và tư liệu quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr. 203

[10] Phạm Văn Đồng (1986), Vì sao Mỹ thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội (không rõ số trang)

[11] Trung tâm lưu trữ quốc gia II (2012), Hiệp định Paris về Việt Nam năm 1973 qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn, Nxb Chính trị quốc gia, t1, tr. 75

[12] Nguyễn Thị Bình (2012), Gia đình, bạn bè, đất nước, Nxb Tri thức, tr. 117

[13] Nguyễn Thị Bình (2012), Gia đình, bạn bè, đất nước, Nxb Tri thức, tr. 110

[14] Nguyễn Thị Bình (2012), Gia đình, bạn bè, đất nước, Nxb Tri thức, tr. 135

[15] Nguyễn Thị Bình (2012), Gia đình, bạn bè, đất nước, Nxb Tri thức, tr. 135

 

[16] Phạm Văn Đồng (1972), Trả lời phỏng vấn nhà báo Pháp Cờlốt Guyliêng (Claude Julien) của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngày 18-5-1972, (dẫn lại theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

[17] Phim tài liệu: Indochina People's War in Colour. History Channel, tập 2 (dẫn lại theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

[18] Dương Trung Quốc (2011), “Cuộc đối thoại lịch sử: Tướng Giáp và Nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ”, Báo Giáo dục Việt Nam onile, ngày 27-8-2011, http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Cuoc-doi-thoai-lich-su-Tuong-Giap-va-Nguyen-Bo-truong-QP-My-post12095.gd

 


Trong số này
Thể lệ Giải thưởng Sản phẩm truyền thông KHCN Đồng Nai năm 2019
Nông dân đưa sản phẩm tiêu sạch đi Châu Âu
​Tham quan học tập tại Trung tâm Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong công nghiệp
​Tập huấn an toàn bức xạ
​Phòng trừ bệnh xoăn vàng lá cà chua
​Tăng cường an toàn sinh học trong chăn nuôi
​Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019: Nhiều đổi mới mang tính đột phá
​Tiếp tục nâng cao hiệu quả thực hiện Đề án “Nâng năng lực cạnh tranh các sản phẩm công nghiệp trên địa bàn Đồng Nai trong quá trình hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN”
​Từng bước triển khai bệnh án điện tử
​Huyện Định Quán: Phát huy tiềm năng và thế mạnh để phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững
​Sức hút từ phong trào thi đua “Lao động giỏi, lao động sáng tạo"
​Ứng dụng công nghệ trong quản lý rác thải sinh hoạt
​Trồng cây ăn trái theo hướng hữu cơ: Rộng cửa thị trường
Gương điển hình phụ nữ dân tộc thiểu số làm kinh tế giỏi
​Tổ chức các hoạt động chào mừng Ngày Khoa học và công nghệ Việt Nam (18-5) năm 2019
Gỗ trong suốt nay còn có thêm khả năng lưu trữ và giải phóng nhiệt
​Mùi của bệnh Parkinson cuối cùng đã được xác định và sắp có xét nghiệm phát hiện sớm
​Sợi lai kết hợp độ bền của kim loại và khả năng đàn hồi của cao su
Hưởng ứng Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 26/4: "Đường tới huy chương vàng: Sở hữu trí tuệ và thể thao"
Tự chế nước lau sàn từ tinh dầu thiên nhiên
Chế tạo xe lăn điện an toàn, dễ sử dụng, tiện nghi và hiệu quả
​Xây dựng thương hiệu đặc sản Đồng Nai
​6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp phát triển Chính phủ điện tử
Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật sản xuất quýt đường theo tiêu chuẩn VietGAP tại huyện Định Quán
​Bên tượng đài Bác Hồ ở Moskva
Chất độc da cam: thảm họa hôm qua, nỗi đau còn mãi và công lý phải được thực thi
50 năm Di chúc của Hồ Chí Minh (1969-2019): Giá trị còn mãi
Đại thắng mùa Xuân 1975: Thắng lợi từ sức mạnh tổng hợp của dân tộc


Tìm kiếm
Cụm từ
Chuyên mục Số