Bỏ qua Lệnh Ruy-băng Bỏ qua nội dung chính
Tìm kiếm
Tìm kiếm
Danh mục
Hình ảnh liên kết
Liên kết webiste trong tỉnh
Liên kết webiste các tỉnh
Lượt truy cập

 

 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

 


THÀNH TỰU ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN

CỦA SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH ĐỒNG NAI (2003-2015)

CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 40 NĂM GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (1975-2015)



I. Chặng đường đổi mới và phát triển (2003-2015)

T tháng 7/2003, thực hiện Thông tư Liên tịch số 15/2005/TTLT-BKHCN-BNV của Bộ Khoa học và Công nghệ Bộ Nội vụ, Sở Khoa học và Công nghệ được hình thành mới trên cơ sở tách chức năng quản lý nhà nước về môi trường - một thế mạnh với tiềm lực lớn đã đầu tư được chuyển giao cho đơn vị khác. Tổng số cán bộ cơ quan chỉ còn lại hơn 30 người.

Tuy phải đối mặt với thực tế nhiều khó khăn vào giai đoạn mới này, nhưng nhờ sự quyết tâm của tập thể cán bộ, sự lựa chọn đúng đắn hướng phát triển khoa học công nghệ trong thời kỳ mới, Sở đã nhanh chóng tiến hành xây dựng, tổ chức mới lại bộ máy có cơ cấu mạnh hơn.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) về khoa học và công nghệ, chiến lược và nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn này được xác định là:

- Tập trung đầu tư phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ trong 2 lĩnh vực ưu tiên là phát triển nông nghiệp và thực hiện cải cách hành chính hướng tới chính phủ điện tử;

- Xác định 3 chương trình mũi nhọn, gồm công nghệ thông tin; công nghệ sinh học và đào tạo phát triển nguồn nhân lực.

- Đổi mới quản lý hoạt động khoa học công nghệ theo hướng xóa bỏ cơ chế “xin - cho” và huy động nguồn lực các ngành, các cấp tham gia vào việc nghiên cứu ứng dụng để phát huy hiệu quả các chương trình khoa học - công nghệ. Nghiên cứu thực hiện một số sản phẩm khoa học công nghệ có hàm lượng chất xám cao, mang tính cạnh tranh và thương mại để góp phần tạo lập thị trường khoa học công nghệ, đồng thời làm tiền đề cho quan hệ hợp tác và hội nhập khoa học công nghệ khu vực và thế giới.

- Xây dựng các chương trình tác động gây hiệu ứng để huy động các nguồn lực xã hội tham gia vào hoạt động khoa học công nghệ nhằm tạo vừa có động lực vừa có sức mạnh tổng hợp để phát triển khoa học và công nghệ góp phần tích cực vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh.

Thực hiện chiến lược phát triển khoa học và công nghệ sau 10 năm chuyển đổi cùng với sự quyết tâm, nỗ lực của toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, hoạt động khoa học và công nghệ đã đóng góp đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai.

1. Đào tạo, thu hút nguồn nhân lực khoa học và công nghệ

dtthuhutnguonnhanlucKHCN.jpg
Nguồn nhân lực của mỗi địa phương, đất nước có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là nguồn nhân lực trình độ cao. Kinh nghiệm cho thấy nhiều nước nghèo về tài nguyên khoáng sản nhưng nếu biết chú trọng đầu tư phát triển nguồn nhân lực một cách hợp lý đã làm cho đất nước đó phát triển mạnh về khoa học - kỹ thuật với các ngành công nghiệp chế tạo, điện tử, công nghệ thông tin, công nghiệp nặng tiên tiến, nâng mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn các nước có dân số đông, tài nguyên phong phú nhưng chất lượng nhân lực thấp.

Nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học - công nghệ hiện đang làm việc trong hệ thống chính trị của tỉnh, đặc biệt lực lượng cán bộ quản lý chủ chốt thuộc các ngành được học tập, nghiên cứu trong điều kiện và môi trường thuận lợi, có khả năng nâng cao trình độ, tiếp cận với các kinh nghiệm, nghiên cứu mới của thế giới, trở thành các cán bộ, chuyên gia đầu đàn của các ngành, Sở Khoa học và Công nghệ đã tham mưu UBND tỉnh về vấn đề phát triển nguồn nhân lực. Kết quả năm 2005, Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 51/2005/NQ-HĐND về Đề án phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2006-2010 và tầm nhìn đến năm 2020. Theo đó, Sở Khoa học và Công nghệ được giao làm Chủ nhiệm Chương trình 2 (Chương trình đào tạo sau đại học) và Chương trình 6 (Chương trình bồi dưỡng về tin học, ngoại ngữ, kiến thức đối ngoại cho cán bộ chủ chốt và đào tạo phiên dịch). Sau thời gian phối hợp triển khai thực hiện cùng với Sở Nội vụ và các sở, ngành liên quan, kết quả đạt được như sau:

1.1. Chương trình Đào tạo sau đại học

Chương trình bắt đầu từ năm 2007 đến 2015 với kết quả như sau:

+ Kết quả thực hiện giai đoạn 2006-2010

Có 412 học viên đăng ký được duyệt tham gia Chương trình, trong đó có 356 học viên còn tham gia Chương trình

- Đã tốt nghiệp và phát huy trong công tác: 348 học viên

- Còn đang học: 08 học viên (Tiến sĩ)

Ngành đào tạo

Tiến sĩ

Thạc sĩ

CKI

CKII

Tổng số

Số lượng

Tỷ lệ %

Khoa học tự nhiên

 

61

 

 

61

18

Khoa học giáo dục

 

60

 

 

60

17.2

Khoa học y dược

1

4

73

41

119

34.2

Khoa học nông nghiệp

 

10

 

 

10

3

Khoa học pháp lý

 

4

 

 

4

1.1

Khoa học XHNV

1

8

 

 

9

2.6

Kinh tế - Quản lý

1

22

 

 

23

6.6

Khoa học kỹ thuật

1

61

 

 

62

17.8

Tổng số

4

230

73

41

348

100

Cơ cấu tuổi đối với các học viên đã tốt nghiệp:

  • Trên 40 tuổi có 75 học viên (chiếm 21,5%).
  • Độ tuổi từ 30 đến 40 tuổi có 135 học viên (chiếm 38,8%).
  • Dưới 30 tuổi có 138 học viên (chiếm 39,6%).

Cơ cấu giới tính:

-  Gồm có 215 học viên nam, 133 học viên nữ.

+ Kết quả xét duyệt tham gia Chương trình giai đoạn 2011-2015:

Qua 3,5 năm thực hiện, đã chọn cử 1.169 ứng viên (có 352 nữ) được tham gia chương trình, đạt 127,1% so với kế hoạch cả giai đoạn. Trong đó, một số đối tượng đạt vượt cả giai đoạn 2011-2015 như:

- Đào tạo tiến sĩ đạt 235,71%;

- Đào tạo thạc sĩ đạt 145,7% (thạc sĩ trong nước đạt 151,38%, thạc sĩ liên kết đạt 103,33%).

Một số đối tượng tuyển sinh còn khó khăn như:

- Đào tạo thạc sĩ ở nước ngoài đạt 45% do học viên không đạt chuẩn ngoại ngữ;

- Đào tạo bác sĩ chuyên khoa II đạt 30,56% so với chỉ tiêu cả giai đoạn đề ra. Hàng năm Ban Chủ nhiệm Chương trình đều có báo cáo Tỉnh ủy và UBND tỉnh thực trạng này và Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã có chỉ đạo nhưng tình hình không có chuyển biến. Nguyên nhân là ngành y tế không có nhân lực đăng ký học trình độ chuyên khoa 2.

Trong số các ứng viên tham gia Chương trình Đào tạo sau đại học, số lượng nữ ứng viên là 352 người chiếm tỷ lệ 30,1%.

Số lượng học viên trong độ tuổi thanh niên được đưa đi đào tạo sau đại học là 494 người/tổng số 1.169 người, chiếm tỷ lệ 42,25%, trung niên là 521 người chiếm 44,5%, còn lại là trên 40 tuổi, chiếm 13,17%.

Ngành đào tạo

Thạc sĩ

CKI

Tiến sĩ

CK 2

Tạo nguồn

Tổng số

Số lượng

Cơ cấu

Khoa học tự nhiên

223

 

8

 

2

233

19,93%

Khoa học kỹ thuật

140

 

8

 

3

151

12,93%

Khoa học giáo dục

294

 

23

 

 

317

27,11%

Khoa học y dược

25

136

5

17

1

184

15,73%

Khoa học nông nghiệp

53

 

2

 

 

55

4,70%

Khoa học pháp lý

87

 

7

 

 

94

8,05%

Khoa học XHNV

30

 

9

 

 

39

3,33%

Kinh tế - Quản lý

80

 

7

 

1

88

7,54%

Khoa học quân sự

7

 

1

 

 

8

0.68%

Tổng số

939

136

70

17

7

1.169

 

Cơ cấu tuổi đối với những học viên đã tốt nghiệp:

  • Trên 40 tuổi có 77 học viên (chiếm 25,85%).
  • Độ tuổi từ 30 đến 40 tuổi có 171 học viên (chiếm 57,38%).
  • Dưới 30 tuổi có 50 học viên (chiếm 16,77%).

Cơ cấu giới tính:

Gồm có159 học viên nam, 139 học viên nữ.

Hằng năm vào dịp trước Tết Nguyên đán, Sở Khoa học và Công nghệ đều tổ chức “Ngày hội Khoa học và Công nghệ”, trong đó buổi họp mặt các học viên tham gia chương trình là một trong số các sự kiện của ngày hội nhằm đánh giá tổng kết chương trình trong năm; qua đó giao lưu trao đổi kinh nghiệm cũng như tuyên dương, khen thưởng các học viên đạt thành tích trong quá trình học tập.

daotaosaudaihoc.jpg
Lãnh đạo Tỉnh dự và trao bằng khen cho học viên có thành tích xuất sắc, giỏi trong quá trình học tập
1.2. Chương trình đào tạo năng khiếu KHCN

Cùng với chương trình đào tạo sau đại học, chương trình bồi dưỡng về tin học, ngoại ngữ, kiến thức đối ngoại cho cán bộ chủ chốt và đào tạo phiên dịch (Chương trình 6) đã được triển khai thực hiện từ năm 2007 - 2015. Ban đàu có 810 cán bộ đăng ký tham gia chương trình; tuy nhiên trong quá trình đào tạo, có 214 học viên đã tự học để nâng cao trình độ theo quy định; số còn lại là 596 học viện được Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và cấp giấy chứng nhận trình độ A và B tin học.

traocctinhocBchocanbochuchot.jpg
Trao chứng chỉ cho học viên lớp tin học B dành cho cán bộ chủ chốt
daotaotinhocBchocanbochuchot.png
Kết quả thực hiện đào tạo tin học B cho cán bộ chủ chốt
Thực hiện chương trình “Ươm mầm tài năng” của chương trình đào tạo, bồi dưỡng năng khiếu trong đề án đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2010 - 2015 - 2020, hằng năm Sở Khoa học và Công nghệ, Nhà Thiếu nhi tỉnh và Sở Giáo dục - Đào tạo đã phối hợp tổ chức Hội thi Robot cho các em thanh thiếu niên. Chương trình đã tạo ra sân chơi bổ ích, khơi dậy niềm đam mê sáng tạo của các em học sinh, phát hiện các tài năng, năng khiếu vốn có của các em thanh thiếu niên về Robot.

Kết quả, đã tổ chức được 09 Hội thi Robot, gồm: Hội thi Robot “Bắt cua bỏ giỏ”, năm 2009; “Đá bóng”, năm 2010; “Robot xây thành lũy”, năm 2011; và “Hội thi sáng tạo robot”, năm 2012; năm 2013 “Gia đình Robot”; năm 2014 “Sáng tạo Robot”. Qua mỗi lần, hội thi đã chọn ra 2 con Robot xuất sắc nhất để tham gia Hội thi robot thanh thiếu niên toàn quốc hằng năm. Năm 2011 đã đạt được 01 Giải Đặc biệt tại Hội thi Robot toàn quốc. Đặc biệt năm 2014 đội Robocon Trường đại học Lạc Hồng đoạt Vô địch Robocon Châu Á - Thái Bình Dương.

uommamtainang.jpg
Với mục tiêu giai đoạn 2011 - 2015, chương trình sẽ tập trung đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hình thành đội ngũ chuyên gia giỏi đầu ngành ở các lĩnh vực mũi nhọn mà tỉnh còn thiếu như: Công nghệ sinh học, tin học, viễn thông, y tế, vật liệu mới… Dự kiến đến năm 2015, toàn tỉnh sẽ thực hiện đào tạo khoảng 500 thạc sỹ, tiến sỹ thuộc các ngành nghề để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh, góp phần xây dựng Đồng Nai thành tỉnh cơ bản công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010 - 2015 đã đề ra.

khaigianglopnangkhieurobot.jpg
2.  Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật

2.1. Xây dựng mới trụ sở làm việc ở Đồng Nai và Chi nhánh ở TP. Hồ Chí Minh.

Đồng Nai là tỉnh có nền công nghiệp phát triển, do đó khi còn là Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường, cơ quan đã tập trung nguồn lực đầu tư cho việc quản lý môi trường trong bối cảnh sự phát triển công nghiệp còn nhiều bất cập trong bảo vệ môi trường. Đây là nguyên nhân tác động lớn đến tư tưởng cán bộ công chức khi Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đồng Nai được hình thành mới trên cơ sở tách chức năng quản lý nhà nước về môi trường, một thế mạnh với tiềm lực lớn phải chuyển giao theo Thông tư Liên tịch số 15/2003/TTLT-BKHCN-BNV ngày 15/7/2003 của Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Nội vụ. Tổng số CBCC giảm từ 64 người xuống còn người xuống còn 34, với tuổi đời bình quân trên 45.

Đối mặt với tiềm lực lạc hậu và tư tưởng bi quan ở giai đoạn này, nhưng nhờ được sự chỉ đạo, động viên của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, sự quan tâm sâu sát của Bộ Khoa học và Công nghệ, đặc biệt là quyết tâm của tập thể cán bộ trong toàn cơ quan với chiến lược, chiến thuật và lựa chọn được hướng đi đúng đắn, nên đã có những bước đột phá trong xây dựng và phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ đáp ứng thời kỳ mới. 

trusomoi.jpg
Sau gần 5 năm, Trụ sở làm việc được xây dựng mới và chính thức đưa vào làm việc ngày 29 tháng 4 năm 2008.

tapthesochaocodautuan.jpg
Tổng số cán bộ, công chức, viên chức và nhân viên của Sở tăng từ 34 cán bộ năm 2003 lên 256 cán bộ hiện nay.

vanphong2.jpg
vanphong2-1.jpg
Văn phòng đại diện Sở Khoa học và Công nghệ Đồng Nai tại TP. Hồ Chí Minh được đầu tư xây dựng và đưa vào hoạt động chính thức từ ngày 20/5/2009, tại số 277 - 279, đường Nguyễn Thiện Thuật, Phường 1, Quận 3, TP Hồ Chí Minh.

i-office.jpg
Văn phòng điện tử (N-E-M-I) Office trên Internet cùng lúc được đầu tư xây dựng; là công cụ tiên tiến, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành; đạt tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2000 về quản lý chất lượng hành chính theo phương thức Online, năm 2005; và trở thành đơn vị duy nhất trong cả nước được chứng nhận tại thời điểm này).

2.2. Xây dựng Trung tâm Ứng dụng Công nghệ sinh học tại huyện Cẩm Mỹ: Mũi nhọn đột phá trong ứng dụng công nghệ cao.

Trung tâm Ứng dụng Công nghệ sinh học Đồng Nai thuộc Sở Khoa học và Công nghệ được UBND tỉnh thành lập năm 2008, với nhiệm vụ ứng dụng triển khai thành tựu công nghệ sinh học vào thực tiễn sản xuất trong các lĩnh vực nông nghiệp, y tế và môi trường.

bandoquyhoachTTCNSH.jpg
Bản đồ Quy hoạch Trung tâm Ứng dụng Công nghệ sinh học
Với diện tích 207,8 ha đã được duyệt quy hoạch tại ấp 2, xã Xuân Đường, huyện Cẩm Mỹ. Tháng 7/2010, Khu Trung tâm Ứng dụng chính thức được công bố hoạt động và triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng như đường, điện, nước… phục vụ cho các triển khai nghiên cứu về công nghệ sinh học.

khoicongTTCNSH.jpgkhoicongTTCNSH-1.jpg
Lễ khởi công Trung tâm Ứng dụng Công nghệ sinh học
Được sự quan tâm của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và sự chỉ đạo thực hiện sát sao của Giám đốc Sở KHCN. Các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng trong thời gian ngắn đã hoàn thành và đưa vào sử dụng đường kết nối, hệ thống điện lưới và 05 giếng khoan công nghiệp, nhà điều hành trạm bơm nước, hồ chứa 200 m3, tháp nước cao 24m với dung tích 60 m3 phục vụ các đề tài/dự án và doanh nghiệp đầu tư triển khai tại Trung tâm Ứng dụng Công nghệ sinh học tỉnh Đồng Nai.

thutuongchinhphuthamTTCNSH.jpg
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng thăm và làm việc tại
Trung tâm Ứng dụng Công nghệ sinh học Đồng Nai
BTBNNPTNTthamCNSH.jpg
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát thăm và làm việc tại
Trung tâm Ứng dụng Công nghệ sinh học Đồng Nai
doanctactham TTCNSH.jpg
Đoàn công tác của Hội đồng Lý luận Trung ương
thăm và làm việc tại
Trung tâm Ứng dụng Công nghệ sinh học Đồng Nai


Với cơ sơ hạ tầng hiện có Khu Trung tâm Ứng dụng Công nghệ sinh học tỉnh Đồng Nai đã thu hút 8 doanh nghiệp công nghệ cao chuyên ngành công nghệ sinh học đầu tư.

mophongkhunhalamviecctyvietnong.jpg
Mô phỏng phức hợp khu văn phòng - nhà xưởng - phòng thí nghiệm
của Công ty TNHH Việt Nông đầu tư tại Khu Công nghệ sinh học
Ngoài ra, Trung tâm Ứng dụng CNSH với nguồn nhân lực hiện có 26 cán bộ viên chức, trong đó có thạc sĩ 12, đang học nghiên cứu sinh 01, cao học 07, lực lượng cơ hữu này là hạt nhân nối kết với các viện, trường và doanh nghiệp: Đại học Nông Lâm TP. HCM, Đại học Khoa học và Tự nhiên, Trung tâm CNSH Tp. HCM, Khu Nông nghiệp công nghệ cao TP.HCM, Trung tâm Cây ăn quả miển Đông,... thực hiện các mô hình ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp như: Mô hình xen xoài trong vườn chôm chôm; Mô hình áp dụng kỹ thuật tổng hợp phát triển cây bơ sáp; Mô hình trồng cây sầu riêng xen măng cụt; Mô hình chuổi liên kết sản xuất, chế biến sản phẩm ca cao; Mô hình ứng dụng công nghệ cao cho cây thanh long.

mohinhsxthunghiemcacgionglan.jpg
Mô hình sản xuất thử nghiệm các giống lan Mokara cắt cành
mohinhsxdualetrongnhamang.jpg
Mô hình sản xuất dưa lê, dưa leo trong nhà màng
mohinhtrongxencaphe-mangcut.jpg
Mô hình trồng xen cây hồ tiêu, cây măng cụt trong vườn cao su
Trong thời gian tới, Trung tâm Ứng dụng Công nghệ sinh học tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ:

- Xúc tiến thành lập Khu Công nghệ cao chuyên ngành công nghệ sinh học trên cơ sở nền tảng của Trung tâm Ứng dụng Công nghệ sinh học song song với việc đầu tư cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh.

- Thu hút các doanh nghiệp công nghệ cao chuyên ngành Công nghệ sinh học đầu tư, thu hút các Trường, Viện về nghiên cứu, triển khai đề tài/dự án vào Trung tâm.

- Tiếp tục đào tạo và thu hút nguồn nhân lực chuyên ngành công nghệ sinh học, dươc và nông nghiệp.

2.3. Xây dựng Trung tâm Đo kiểm tại Nhơn Trạch: Năng lượng gia tốc tàu bay khoa học - công nghệ Đồng Nai

trungtamdokiem.jpg
Đồng Nai có một vị trí quan trọng trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với tiềm lực là Khu công nghiệp Biên Hòa 1 sẵn có từ năm 1961 cùng với chính sách mở cửa thu hút đầu tư của Đảng và Nhà nước nên đã dẫn đầu của nước về số lượng khu công nghiệp tập trung, chuyển dịch nhanh chóng cơ cấu kinh tế và phát triển nhanh chóng hạ tầng dịch vụ. Từ đó Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường có vị thế mạnh trong cả nước với sự đầu tư mạnh mẽ, trong đó có cả dự án của UNDP tài trợ về nhân lực và trang thiết bị hiện đại phục vụ cho công tác quản lý môi trường.

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, gia nhập tổ chức WTO, Chính phủ đã điều chỉnh, tinh gọn bộ máy hành chính, trong đó chuyển hoạt động ngành Môi trường sang sát nhập ngành Địa chính để thành lập ngành Tài nguyên và Môi trường. Trong khi một số địa phương chỉ thực hiện chuyển chức năng nhiệm vụ, thì Đồng Nai chuyển toàn bộ nhân lực, trang thiết bị khoa học để phục vụ cho môi trường, trong đó bao gồm luôn cả phần thí nghiệm của Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng.

Trước thiếu hụt nhân lực, nghèo nàn về trang thiết bị cộng với cơ chế xin - cho đặc thù của ngành khoa học công nghệ, Lãnh đạo Sở luôn luôn trăn trở để tìm hướng đi vì bài toán quá ít dữ kiện nhưng quá nhiều ẩn số. Chính trong giai đoạn khó khăn đó mới tạo ra những bức phá được hình tượng bằng tàu bay khoa học công nghệ. Khó khăn nhất, nguy hiểm nhất là ở giai đoạn cất cánh và Dự án Trung tâm Đo kiểm Nhơn Trạch là một trong những nguồn năng lượng tăng tốc.

Trước sự phát triển nhanh về trình độ sản xuất của doanh nghiệp làm gia tăng sự chênh lệch về trình độ và thiết bị đo lường thử nghiệm, ảnh hưởng lớn đến môi trường thu hút đầu tư cũng như việc đánh giá chất lượng sản phẩn hàng hóa trong sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu. Từ kết quả khảo sát hiện trạng một số tỉnh trọng điểm, Sở Khoa học và Công nghệ Đồng Nai đã xác định mục tiêu lập Dự án Trung tâm Đo kiểm là một trọng điểm trong khởi động cho việc đầu tư tiềm lực khoa học công nghệ tỉnh nhà.

trungtamdokiem-1.jpg
Với diện tích 7000 m2, trên địa bàn tại xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch - thành phố mới công nghiệp, Trung tâm Đo kiểm có vị trí thuận lợi là gần với quốc lộ 51 nối liền Biên Hòa - Vũng Tàu; trục lộ 25B nối liền Long Thành - Nhơn Trạch, Trung tâm Đo kiểm còn gần với đường cao tốc Tp.Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây; cận kề với Dự án Sân bay quốc tế Long Thành và thuận lợi trong tuyến giao thông với các cảng trên dọc theo chiều dài sông Đồng Nai. Tất cả các yếu tố đó góp phần cho Trung tâm phát huy tiềm năng được đầu tư.

Trung tâm Đo kiểm được xây dựng với kinh phí hơn 50 tỷ đồng gồm các hạng mục xây dựng và hệ thống trang thiết bị hiện đại đồng bộ, có 7 lĩnh vực đo lường, 10 lĩnh vực về thử nghiệm. Khi đưa vào sử dụng sẽ được kết hợp với năng lực hiện có gồm 21 phạm vi kiểm định được Tổng cục công nhận; 4 lĩnh vực hiệu chuẩn thử nghiệm theo VILAS, LAS với 29 chỉ tiêu. Ngoài ra kết hợp với hoạt động sẵn có là kiểm toán năng lượng, kiểm định kỹ thuật an toàn, đánh giá an toàn bức xạ hạt nhân… giúp cho hoạt động của Trung tâm đầy đủ, toàn diện và đáp ứng hầu hết các yêu cầu trong sản xuất, phân phối lưu thông, phục vụ cơ sở dữ liệu cho công tác quản lý nhà nước trên địa bàn và mở rộng cả vùng Nam bộ.

Trung tâm Đo kiểm là môi trường thuận lợi cho lực lượng khoa học trẻ phát huy và thể hiện được năng lực sẵn có, tạo được môi trường lao động, học tập và nghiên cứu khoa học. Nơi đây sẽ hội tụ liên kết với các trường đại học trong khu vực để sinh viên có điều kiện gắn kết với lý thuyết và thực hành, gắn nhà trường với xã hội. Hơn nữa cũng là cơ sở cho phát triển trình độ chuyên môn cho Cán bộ Trung tâm, không chỉ dừng lại ở 02 nghiên cứu sinh, 05 thạc sĩ và 11 cao học kỹ thuật như hiện nay mà sẽ có bước đột phá mạnh trong các năm tiếp theo.

Hoạt động của Trung tâm Đo kiểm góp phần nâng cao tiềm lực khoa học công nghệ cho tỉnh nhà, thu hút lực lượng lao động trẻ về xây dựng thành phố mới Nhơn Trạch và hơn nữa là đóng góp cho sự phát triển bền vững trong nền kinh thế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa.

trungtamdokiem-2.jpg
3. Công nghệ thông tin đi trước một bước, phục vụ nông nghiệp, nông thôn và cải cách hành chính hướng tới chính quyền điện tử:

cntt.jpg
Công nghệ thông tin hiện được khẳng định là ngành công nghệ của thế kỷ, là hành trang không thể thiếu trong thế kỷ 21. Một trong sáu dự án đột phá thuộc chương trình công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) trọng điểm quốc gia là: “Đưa Internet và tin học về nông thôn: Phát triển truy cập Internet băng thông rộng, cung cấp các dịch vụ và mở rộng mạng lưới bưu điện văn hóa xã”. Điều này cho thấy, Đảng và Nhà nước ta đã xác định việc đưa CNTT về nông thôn là một nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển CNTT nói chung, cũng như phát triển kinh tế nông thôn.

Đồng Nai, một tỉnh thuộc miền Đông - Nam bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là tỉnh có tốc độ phát triển công nghiệp cao, nhưng đồng thời cũng là tỉnh có tỉ lệ dân cư sinh sống dựa vào nông nghiệp trên 70% dân số. Nhận thức được điều này, Sở Khoa học và Công nghệ ngay từ năm 2003 đã xác định đầu tư xây dựng  tiềm lực khoa học và công nghệ, trong đó đầu tư CNTT trước một bước; và xem đây là chiến lược trong phát triển khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp, nông thôn, cải cách hành chính hướng đến chính quyền điện tử, góp phần tạo nền tảng cho việc phát triển bền vững về kinh tế, văn hóa và chính trị, hướng đến xây dựng Đồng Nai thành tỉnh cơ bản công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào năm 2015, mà Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010-2015 đã đề ra.

3.1. Hành trình “Đưa khoa học và công nghệ đến tận nhà, để nông dân không phải đi xa”.

Để giúp nông dân áp dụng nhanh các thành tựu, tiến bộ khoa học và kỹ thuật vào thực tế sản xuất và đời sống, Sở Khoa học và Công nghệ đã nhanh chóng phát triển đồng bộ các nguồn lực thông qua thực hiện các chương trình, dự án về CNTT từ năm 2003 đến nay; và lấy phương châm “Đưa khoa học và công nghệ đến tận nhà, để nông dân không phải đi xa”để hành động.

- Chương trình phổ cập trình độ A tin học cho cán bộ xã

phocaptinhocAchocanboxa.jpg
Chương trình bắt đầu từ năm 2006. Mục tiêu của chương trình là phổ cập kiến thức cơ bản về tin học cho cán bộ xã, ấp với mức phấn đấu nhà nước hỗ trợ kinh phí đào tạo 50 cán bộ, công chức, viên chức và nhân viên thuộc hệ thống chính trị ở xã, ấp có trình độ A tin học. Đặc điểm nổi bật của Chương trình này là:

- Nhà nước không đầu tư máy móc, thiết bị mà huy động từ nhiều nguồn, như thuê từ các trung tâm đào tạo, dạy nghề; từ các trường trung học phổ thông v.v…;

- Mở lớp đào tạo tại xã hoặc cụm xã để tạo thuận lợi cho người học không phải đi xa;

- Giáo viên thực hiện chức năng 3 trong 1: dạy, quản lý học viên và quản lý thiết bị. Giáo viên ăn, ở và sinh hoạt tại xã để sẳn sàng hỗ trợ học viên khi cần thiết;

- Đơn vị đào tạo và đơn vị tổ chức thi cấp bằng độc lập nhau;

- Học viên tham dự lớp học phải tự đóng học phí. Sau 4 tháng học, nếu thi đậu sẽ được hỗ trợ toàn bộ học phí (600.000 đồng/người).

Chương trình phổ cập kiến thức tin học trình độ A đã đáp ứng được nguyện vọng của những cán bộ, viên chức xã, ấp lớn tuổi, những người tưởng chừng như đã “mù Tin học” do ngại đến các trung tâm tin học, học tập chung với lớp con cháu. Với sự tận tình của thầy giáo, đã không quản ngại khó khăn đến ăn ở cùng với tập thể của xã, cùng sinh hoạt và chỉ dạy tận tình với tư cách người con, người cháu sớm tiếp cận với công nghệ thông tin, nay mang kiến thức về truyền đạt lại cho các bậc cha chú do quá trình chiến đấu, lao động chưa có điều kiện để học tập. Mô hình học tập này đã xóa dần những e ngại về mặt tuổi tác đối với các học viên lớn tuổi.

Đối với lãnh đạo của địa phương, chương trình đã góp phần vào công cuộc cải cách hành chính, dấy lên phong trào thi đua học tập giữa lớp cán bộ lão thành và cán bộ trẻ; giải quyết được trở ngại về thời gian và chi phí đi lại khi cử cán bộ tham gia chương trình.

Chương trình kết thúc vào năm 2010. Kết quả đã đào tạo được 7.007 cán bộ đạt chuẩn trình độ A tin học trên toàn tỉnh.

- Xây dựng các Điểm Thông tin khoa học và công nghệ.

lebangiaodiemtt.jpg
Chương trình bắt đầu từ cuối năm 2003. Nội dung chính của chương trình là xây dựng các Điểm Thông tin khoa học và công nghệ tại các Trung tâm Văn hóa Thể thao và Học tập công đồng thuộc các xã, phường trên toàn tỉnh. Mục tiêu đến hết năm 2015 sẽ xây dựng được 100% các xã, phường có Điểm thông tin KH&CN. Kết quả đến nay đã xây dựng được 148 Điểm Thông tin KH&CN (toàn tỉnh có 171 xã, phường). Mỗi Điểm thông tin KH&CN được đầu tư trang thiết bị như sau:

- 02 bộ máy vi tính, 01 máy in, 01 máy chụp hình kỹ thuật số cùng bàn ghế vi tính, bàn ghế làm việc, tủ đựng đĩa, bản tin, tạp chí;

- Nguồn lực thông tin KHCN được tích hợp trong các máy vi tính của các Điểm gồm có: Cơ sở dữ liệu 60.000 công nghệ nông thôn toàn văn; CSDL 40.000 câu hỏi đáp khoa học thường thức; CSDL 4.000 phim khoa học và công nghệ nông thôn; CSDL chuyên đề 200 câu hỏi - đáp về dịch hại trên cây trồng và  cách sử dụng thuốc bảo vệ thực vật; CSDL chuyên đề 21 loại cây ăn trái có lợi thế cạnh tranh và xuất khẩu; CSDL 150 chuyên gia tư vấn về KHCN.

Ngoài cơ sở dữ liệu tại xã, Sở xây dựng trung tâm tích hợp dữ liệu tập trung để phục vụ cho các xã chưa có Điểm thông tin KH&CN truy cập tìm kiếm thông tin. Để đảm bảo thông tin cung cấp từ phía Sở và thông tin khai thác từ phía xã/ấp, công tác thu thập, xử lý và biên tập các phim và tài liệu khoa học từ các kênh truyền hình trong cả nước được tổ chức thực hiện để hàng tuần có lượng phim mới cung cấp các Điểm cũng như cập nhật bổ sung cho các CSDL, phát triển nguồn lực thông tin.

Đặc biệt, các CSDL trên còn được xây dựng, tích hợp thành một chương trình dưới thương hiệu: “CSDL 10 vạn câu hỏi đáp khoa học và kỹ thuật - Đồng Nai” - một CSDL về KHCN phong phú và đa dạng để có thể vừa cung cấp cho hệ thống các Điểm thông tin KH&CN phục vụ nông dân, vừa cung cấp cho các Trường PTTH, THCS trên toàn tỉnh để phục vụ cho việc học tập và giảng dạy, (cần nói thêm, “CSDL 10 vạn câu hỏi đáp khoa học và kỹ thuật” đạt Giải Nhất Hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Đồng Nai 2006 và đạt Giải thưởng Sao Khuê  năm 2009; CSDL đã được chuyển giao cho hơn 10 đơn vị ngoài tỉnh có nhu cầu).

Có thể nói đây là CSDL hàng đầu hiện nay về thông tin KHCN phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đời sống nông thôn không chỉ cho Đồng Nai mà còn chia sẻ cho các tỉnh khác trong cả nước.

- Mỗi điểm thông tin còn được trang bị cho 01 Website nằm trong Cổng thông tin khoa học - công nghệ Đồng Nai với các thông tin kinh tế - xã hội, giá cả thị trường, thời tiết dịch bệnh, kinh nghiệm và ứng dụng trong sản xuất và đời sống được cập nhật thường xuyên, giúp bà con nông dân nắm thông tin để chủ động trong việc phòng ngừa dịch bệnh, phát triển cây trồng - vật nuôi, thay đổi lối canh tác theo hướng áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật để tăng năng suất, đạt chất lượng.

Chương trình đã mang lại hiệu quả trong việc nâng cao nhận thức về CNTT, cũng như áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật đối với người dân nông thôn. Người dân đã thực sự không còn xa lạ với CNTT và thông tin KHCN. Cùng với các thông tin về chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước được phổ biến, tuyên truyền, các sản phẩm nông nghiệp, các thương hiệu của nông dân cũng được  quảng bá, tiếp thị một cách rộng rãi trên mạng Internet.

- Xây dựng mạng thông tin quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ từ tỉnh đến các huyện, thị xã Long Khánh và thành phố Biên Hòa

mangluoithongtincachuyen.jpg
Quan niệm phổ biến trong dân gian là phi thương bất phú, nhưng ngày nay mọi mặt, mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế đều phải ứng dụng CNTT mới phát triển mạnh mẽ được. Nói về tầm ảnh hưởng của CNTT đến toàn bộ nền kinh tế xã hội tại Hội nghị Triển khai Nghị quyết Trung ương IV (khóa XI), Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải nhấn mạnh: "Chừng nào xã hội, doanh nghiệp và người dân còn chưa nhận thức được rằng “phi tin bất phú”, chừng ấy các mục tiêu về phát triển CNTT với tư cách hạ tầng của mọi hạ tầng sẽ còn nằm ngoài tầm với".

Với 03 mũi nhọn trọng tâm là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và đào tạo nguồn nhân lực, dưới sự lèo lái bản lĩnh và quyết đoán của tập thể lãnh đạo Sở, sự lao động nhiệt tình sáng tạo của tập thể cán bộ công chức viên chức, mười năm qua là quãng thời gian mà ngành KH&CN Đồng Nai đặc biệt đã có những bước tiến vượt bậc và đạt được rất nhiều thành công rực rỡ. KH&CN Đồng Nai đã trở thành một điển hình của ngành KH&CN cả nước với tầm nhìn và những bước đi mang tính đột phá, góp phần tạo ra những sản phẩm nổi tiếng trong cả nước và quốc tế.

Tại Hội thảo triển khai nhiệm vụ KH&CN Đồng Nai năm 2009, ông Bùi Văn Quyền, trưởng Văn phòng Đại diện khu vực phía nam của Bộ KH&CN, đại diện lãnh đạo Bộ tham dự Hội thảo đã đánh giá rất cao các thành tích mà Sở đã đạt được. Cũng tại Hội thảo, đại diện lãnh đạo Bộ đã đề nghị Sở tập trung triển khai thực hiện hàng loạt những nhiệm vụ trọng tâm. Hai trong số đó là:

- Xây dựng, nâng cấp và hoàn thiện các hệ thống thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành, quản lý của các cơ quan nhà nước. Cung cấp thông tin và dịch vụ hành chính công trực tuyến phục vụ người dân và doanh nghiệp.

- Nâng cao năng lực hoạt động và phát triển các sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin. Tăng cường khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động đời sống xã hội.

Thực hiện nhiệm vụ trên, trong năm 2009, được sự chấp thuận chủ trương của các cấp lãnh đạo tỉnh, sự đồng thuận ủng hộ của lãnh đạo các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn, Sở KH&CN Đồng Nai đã triển khai xây dựng “Mạng thông tin phục vụ Quản lý nhà nước về khoa học công nghệ giữa Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đồng Nai với các huyện, thị xã Long Khánh, thành phố Biên Hoà”. Chương trình được triển khai nằm trong lộ trình xây dựng, nâng cấp và hoàn thiện các hệ thống thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành, quản lý của các cơ quan nhà nước; cụ thể là tăng cường hiệu quả công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực khoa học và công nghệ tại các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh theo hướng: an toàn, hiệu quả, chính xác, kịp thời, góp phần thực hiện nhanh cải cách hành chính.

Đồng thời với việc triển khai Mạng thông tin nói trên, Sở Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với UBND các huyện, thị xã Long Khánh, thành phố Biên Hoà đẩy mạnh việc xây dựng và quảng bá hình ảnh của địa phương tích hợp trên trang thông tin điện tử của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đồng Nai.

mangthongtin.jpg
Mạng thông tin bước đầu đã trang bị dụng cụ, lắp đặt thiết bị và hòa mạng tại 11 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã, thành phố của tỉnh (các đầu cầu được lắp đặt tại các phòng Kinh tế/Kinh tế - Hạ tầng, đặt dưới đầu mối quản lý của cán bộ Phòng). Mạng đã hình thành một mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ rộng khắp, đáp ứng chia sẻ thông tin hai chiều giữa Sở Khoa học và Công nghệ với các huyện, thị xã Long Khánh, thành phố Biên Hoà; Thiết lập mạng lưới về quản lý và cung cấp thông tin khoa học công nghệ từ tỉnh xuống huyện và tiếp đó là xuống xã phường (thông qua hệ thống các Điểm Thông tin KH&CN đã và đang được triển khai đến từng phường, xã).

Các thông tin dữ liệu KH&CN được quản lý tập trung tại Trung tâm dữ liệu (DataCenter) của Sở KH&CN, đáp ứng tốt nhu cầu thông tin thực tế từ tỉnh đến huyện, xã phường và tương lai đến thôn ấp, người dân. Cùng với đó, chương trình cũng đã đào tạo và chuyển giao sử dụng, ứng dụng tích hợp công nghệ thông tin tại 11 đơn vị cấp huyện trong toàn tỉnh.

Thông qua hệ thống này, các thông tin trong lĩnh vực quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ; các thành tựu, tiến bộ khoa học kỹ thuật phù hợp với các huyện, thị; các mô hình khoa học công nghệ điển hình hiệu quả để áp dụng nhanh vào sản xuất và đời sống… được thu thập, lựa chọn phân loại đối tượng sử dụng thông tin theo đặc điểm kinh tế - xã hội của từng vùng và cung cấp kịp thời, thích hợp, đầy đủ bảo đảm tính chuẩn xác, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

- Đưa băng thông rộng về các vùng nông thôn (VSAT-IP)

Mục tiêu của chương trình là đảm bảo 100% các Trung tâm Văn hóa, Thể thao và Học tập cộng đồng trên toàn tỉnh có Internet băng thông rộng. Sở Khoa học và Công nghệ đã chọn giải pháp công nghệ VSAT-IP để đưa băng thông rộng về các vùng sâu, vùng xa, nơi dịch vụ ADSL chưa có hoặc có nhưng hiệu quả thấp. Kết quả đến năm 2011, 100% các xã đã có internet băng thông rộng.

Chương trình có ý nghĩa kinh tế và chính trị, mang lại lợi ích cho toàn cộng đồng xã hội, đảm bảo quyền được hưởng thụ, nhất là của cư dân vùng nông thôn đối với việc khai thác, truy cập mạng Internet: Nông dân tìm kiếm thông tin phục vụ sản xuất và đời sống; giáo viên tìm kiếm thông tin phục vụ giảng dạy; học sinh, sinh viên tìm kiếm thông tin phục vụ học tập, nghiên cứu, giải trí; cán bộ, công chức, viên chức xã/ấp có điều kiện nâng cao trình độ CNTT phục vụ công cuộc cải cách hành chính và mục tiêu chính phủ điện tử; đặc biệt đối với các cơ quan trong hệ thống chính trị cấp xã thuận lợi trong việc triển khai học tập quán triệt các Nghị quyết của Đảng bằng hình thức truyền hình trực tuyến, hội nghị trực tuyến.

Chương trình kết thúc năm 2011.

vsat-ip.jpg
3.2. Công nghệ thông tin phục vụ cải cách hành chính hướng tới chính quyền điện tử

- Chương trình đào tạo trình độ tin học A và B cho cán bộ chủ chốt:

Chương trình đào tạo tin học cho cán bộ chủ chốt thuộc đề án phát triển nguồn nhân lực do Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với Sở Nội vụ và các ngành liên quan tỉnh đã triển khai thực hiện từ năm 2007. Mục tiêu chương trình là đào tạo bồi dưỡng, nâng cao chiến lược phát triển công nghệ thông tin, đào tạo kỹ năng sử dụng các chương trình tin học văn phòng và có khả năng sử dụng các phần mềm phù hợp chuyên môn theo hướng dẫn.

Đặc điểm nổi bật của chương trình đào tạo tin học dành cho cán bộ chủ chốt là:

- Các học viên điều là cán bộ chủ chốt cấp tỉnh và cấp huyện nên được sự quan tâm tạo điều kiện của tỉnh;

- Cơ sở vật chất đảm bảo và đội ngũ giáo viên giảng dạy có chọn lọc;

- Đơn vị đào tạo và đơn vị tổ chức thi cấp bằng độc lập nhau;

- Học viên đi học được miễn phí toàn bộ học phí và được hưỡng trợ cấp 20.000/1 buổi học;

- Lớp dành cho cán bộ chủ chốt cấp tỉnh học ở Trường Đại học Lạc Hồng, lớp dành cho cán bộ chủ chốt cấp huyện mở ở Trung tâm dạy nghề các huyện nên thuận lợi cho các học viên không phải đi xa;

daotaotinhocA-Bchocanbochuchot.jpg
KẾT QUẢ: Từ khi bắt đầu chương trình năm 2007 đến kết thúc năm 2011, kết quả như sau:

- Từ 2007 đến 2009, chương trình đã đào tạo được 184 cán bộ chủ chốt có trình độ A;

- Từ 2010 đến 2011, chương trình đã đào tạo được 412 cán bộ chủ chốt có trình độ B.

- Văn phòng điện tử (N,E,M,I) Office.

a) Sự hình thành và phát triển:

i-office-1.jpg
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trong công tác quản lý nhà nước và điều hành các hoạt động khoa học và công nghệ, việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế một văn phòng điện tử - (N, E, M, I) Office là hết sức cần thiết được đặt ra đối với Sở Khoa học và Công nghệ.

Văn phòng điện tử (N,E,M,I) Office được định hướng thiết kế qua 04 giai đoạn: Văn phòng mạng (N-office); văn phòng điện tử (E-office); văn phòng di động (M-office); và văn phòng thông minh (I-office) với 3 nhiệm vụ đồng thời sau:

- Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 với phạm vi áp dụng: Xây dựng kế hoạch, chương trình, đề tài nghiên cứu triển khai và đánh giá kết quả thực hiện; Thẩm định đủ điều kiện kinh doanh; Phê duyệt hợp đồng chuyển giao công nghệ và thẩm định công nghệ; Quản lý tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng; Cấp giấy phép đủ điều kiện sử dụng máy X-quang trong chẩn đoán Y tế; Thanh tra về khoa học - công nghệ; Giải quyết khiếu nại tố cáo trong lĩnh vực hoạt động và quản lý của Sở. Đồng thời khẳng định áp dụng mọi điều khoản của HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO 9001 : 2000. Căn cứ vào phạm vi áp dụng và chức năng của các bộ phận trong Sở, Sở Khoa học và Công nghệ xây dựng và áp dụng được 21 thủ tục, quy trình cho các hoạt động tương ứng và cụ thể cho từng bộ phận.

- Áp dụng hệ thống đa phương tiện để thực hiện các chương trình ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành hướng vào việc xây dựng hệ thống quản lý chất lượng thành hệ thống quản lý ISO Online: Trang Thông tin điện tử khoa học - công nghệ trên Internet; Quản lý và điều hành văn phòng di động; Quản lý các dự án và đề tài nghiên cứu khoa học; Quản lý cơ sở dữ liệu nền, cơ sở dữ liệu công nghệ và môi trường trên công nghệ hệ thống thông tin địa lý (GIS); Quản lý nhãn hiệu hàng hóa; Quản lý công tác thanh tra; Quản lý công tác khiếu nại, tố cáo; Quản lý tài vụ - kế toán; Quản lý thông tin các nhà khoa học; Quản lý văn bản pháp luật; Quản lý tập san và bản tin khoa học và công nghệ; Quản lý nhân sự; Quản lý cơ sở dữ liệu khoa học và công nghệ nông thôn; Quản lý cơ sở dữ liệu năng lực công nghệ các doanh nghiệp; Xây dựng chương trình đăng ký trực tuyến đối với các hoạt động cung cấp dịch vụ hành chính; Chương trình quan sát, theo dõi, chủ trì hội nghị và chỉ đạo điều hành từ xa …    

- Đào tạo và đào tạo lại CBCC để thích nghi với phương thức làm việc và lối sống điện tử (e-workstyle and e-lifestyle) nhằm đạt mục tiêu của hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO Online.

b) Tiện ích và hiệu quả:

- Thông tin quản lý hành chính nhà nước phải kịp thời, chính xác. Thông tin trong quản lý như là hệ thần kinh của hệ thống quản lý nó có mặt và tác động đến mọi khâu của quá trình quản lý. Do đó, xây dựng hệ thống quản lý thông tin trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước góp phần nâng cao hiệu quả cơ quan hành chính nhà nước.

- Chuẩn hóa thông tin, chuẩn hoá quy trình làm việc chuyên nghiệp nhằm giảm thiểu thời gian và tiết kiệm chi phí trong quá trình hoạt động.

- Tiết kiệm giấy mực trong việc in ấn, photocopy nhân bản tài liệu, rút ngắn thời gian xử lý công việc và nâng cao hiệu suất, hiệu quả công tác.

- Giảm bớt thời gian hội hợp bằng việc trao đổi ý kiến ngay trên mạng và họp kiểm điểm công tác trên mạng.

- Đảm bảo thông tin đến với CBCC đầy đủ, kịp thời.

- Xây dựng Trung tâm tích hợp dữ liệu (Data Center) theo chuẩn Quốc tế:

Trung tâm tích hợp dữ liệu (Data Center) do Sở Khoa học và Công nghệ xây dựng đạt các tiêu chuẩn quốc tế TIA-942 (TIA:Telecommunications Industry Association - Hiệp hội Công nghiệp Viễn thông) về trung tâm tích hợp dữ liệu, và đã đạt được các yêu cầu về an ninh thông tin theo tiêu chuẩn ISO/IEC 27001:2005, có trình độ công nghệ và nhân lực thực hiện được các dịch vụ gia tăng trên Internet, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cao cho việc hosting, lưu trữ và sao lưu dữ liệu các Cổng thông tin điện tử, hệ thống thông tin trong tỉnh mà còn đáp ứng được nhu cầu cho các cơ quan, doanh nghiệp ngoài tỉnh hoạt động ổn định và hiệu quả. Đây là Trung tâm duy nhất trong ngành khoa học - công nghệ thực hiện được các dịch vụ gia tăng trên Internet.

trungtamtichhopdulieu.jpg
- Xây dựng giải pháp bảo đảm an toàn, an ninh thông tin

Trong lĩnh vực an ninh thông tin tập trung nghiên cứu các sản phẩm, giải pháp bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trong giao dịch điện tử của các cơ quan trong hệ thống chính trị, hành chính. Sản phẩm, giải pháp trong lĩnh vực này đã đạt nhiều giải thưởng quốc gia và quốc tế và được ứng dụng có hiệu quả trong thực tế, trong đó Tỉnh ủy Đồng Nai đã sử dụng cổng cách ly phi chuẩn NSSP để đảm bảo an toàn cho Hệ thống thông tin của BCH tỉnh ủy. Năm 2009 Sở đã được tổ chức DAS (Vương Quốc Anh) trao giấy chứng nhận ISO/IEC 27001: 2005 cho hệ thống quản lý an ninh thông tin của đơn vị và trở thành cơ quan quản lý nhà nước đầu tiên và duy nhất của Việt Nam được trao giấy chứng nhận hệ thống quản lý an ninh thông tin đạt chuẩn quốc tế.

antoananninhthongtin.jpg
4. Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ

Đẩy mạnh đổi mới cơ chế quản lý khoa học công nghệ theo hướng xóa bỏ cơ chế “xin - cho” và thực hiện theo các chương trình mục tiêu nhằm lựa chọn đề tài, dự án gắn với nhu cầu thực tế của sản xuất và đời sống; nghiên cứu thực hiện một số sản phẩm khoa học công nghệ có hàm lượng chất xám cao, mang tính cạnh tranh và thương mại để góp phần tạo lập thị trường khoa học công nghệ, đồng thời làm tiền đề cho quan hệ hợp tác và hội nhập khoa học công nghệ khu vực và thế giới

Đổi mới quản lý việc triển khai các đề tài, dự án khoa học công nghệ:

Các đề tài, dự án khoa học công nghệ được xét chọn dựa trên mục tiêu và nhiệm vụ của Đồng Nai đặt ra trong chiến lược phát triển là tập trung đầu tư phát triển tiềm lực khoa học trong 2 lĩnh vực ưu tiên là: phát triển nông nghiệp và thực hiện cải cách hành chính hướng tới chính phủ điện tử; xác định 3 chương trình mũi nhọn, gồm chương trình công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và đào tạo phát triển nguồn nhân lực.

Bên cạnh việc tập trung phát triển theo chiều sâu cho 2 lĩnh vực ưu tiên và 3 chương trình mũi nhọn trên, để phát triển theo chiều rộng cần xây dựng các chương trình tác động gây hiệu ứng để huy động các nguồn lực xã hội tham gia vào hoạt động khoa học công nghệ để vừa có động lực vừa có sức mạnh tổng hợp phát triển khoa học công nghệ góp phần tích cực vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh.

Dựa vào chiến lược phát triển trên, hằng năm vào quí 1, Sở Khoa học và Công nghệ mời các sở ban, ngành, các viện nghiên cứu, trường đại học, các nhà khoa học về huyện để tổ chức 11 hội thảo KHCN tại 11 huyện nhằm xác định nhu cầu, nhiệm vụ KHCN và xác định các giải pháp hỗ trợ cho các ngành, các địa phương. Các hội thảo hằng năm này giúp các viện nghiên cứu, trường đại học, các nhà khoa học nắm rõ nhu cầu của các ngành, các địa phương và ngược lại các ngành, các địa phương nắm rõ được thành quả và năng lực nghiên cứu của các viện nghiên cứu, trường đại học, các nhà khoa học. Trên cơ sở kết nối cung cầu trên, các viện nghiên cứu, trường đại học, các nhà khoa học giúp các ngành, các địa phương xây dựng phiếu đề xuất nhiệm vụ khoa học công nghệ phù hợp tình hình thực tế của từng nơi.

Căn cứ vào đề xuất của các ngành, các địa phương, các đề tài, dự án sẽ được xét duyệt qua 3 bước:

- Bước 1: Trong quí 2 hàng năm, Hội đồng Tư vấn xác định danh mục sẽ xét duyệt để quyết định danh mục được tiếp tục thực hiện bước 2, trong đó có đề xuất cấp quản lý: Nhà nước, Tỉnh, ngành hoặc huyện. 

- Bước 2: Căn cứ vào kết quả xét duyệt của Hội đồng Tư vấn xác định danh mục, Chủ nhiệm đề tài, dự án sẽ xây dựng thuyết minh đề tài, dự án trình Hội đồng tư vấn xét duyệt thuyết minh đề tài, dự án cấp tỉnh hoặc ngành hoặc huyện xét duyệt. Hội đồng tư vấn xét duyệt thuyết minh đề tài, dự án thực hiện theo mô hình 3.3 gồm các nhà khoa học ở Đồng Nai và 02 Trung tâm khoa học lớn là thành phố HCM và thủ đô Hà Nội (3 thành viên ở Đồng Nai, 3 thành viên tại TP. HCM và 3 thành viên tại Hà Nội).

- Bước 3: Căn cứ vào kết quả xét duyệt của Hội đồng tư vấn xét duyệt thuyết minh đề tài, dự án, trong quí 4 Hội đồng Khoa học và Công nghệ cấp tỉnh hoặc ngành hoặc huyện sẽ xem xét lần cuối trước khi trình UBND tỉnh hoặc UBND huyện hoặc Giám đốc Sở có quyết định cho phép triển khai thực hiện. Như vậy, UBND tỉnh hoặc UBND huyện hoặc Giám đốc Sở có đầy đủ thông tin các bước xét duyệt khi xem xét và khi UBND tỉnh hoặc UBND huyện hoặc Giám đốc Sở chuyên ngành có quyết định cho phép triển khai thực hiện thì có thể ký hợp đồng triển khai ngay trong đầu năm kế hoạch.

Đối với đề tài, dự án cấp tỉnh thì sử dụng 100% kinh phí của Sở Khoa học và Công nghệ; đề tài, dự án cấp huyện thì kinh phí của Sở Khoa học và Công nghệ hỗ trợ 50%, ngân sách huyện 50%;  đề tài, dự án cấp ngành thì kinh phí của Sở Khoa học và Công nghệ hỗ trợ 70%, kinh phí của ngành 30%;

Việc đổi mới quản lý việc triển khai các đề tài, dự án khoa học công nghệ một cách minh bạch, công khai, xóa bỏ hẳn “cơ chế xin cho” đã có tác động lựa chọn đề tài, dự án gắn kết nghiên cứu với thực tế sản xuất và đời sống, nâng cao chất lượng xem xét, giám định kết quả thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa họchuy động thêm nguồn lực trong, ngoài tỉnh triển khai thực hiện theo các chương trình mục tiêu của Tỉnh.

Kết quả đổi mới, tất cả các đề tài đều có địa chỉ ứng dụng cụ thể, sát với thực tế của ngành, địa phương. Nhiều tiến bộ kỹ thuật mới về qui trình canh tác thâm canh, những mô hình, giống cây trồng, vật nuôi, bảo vệ thực vật có lợi thế so sánh, có giá trị kinh tế đã được ứng dụng hiệu quả, làm tăng năng suất, chất lượng, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn sản xuất, góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tạo ngành nghề đặc thù của địa phương theo hướng kinh tế hàng hóa gắn với thị trường, tăng thu nhập cho người nông dân.

- Đổi mới hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về KH&CN tại địa phương:

Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đồng Nai được hình thành mới trên cơ sở tách chức năng quản lý nhà nước về môi trường theo Thông tư Liên tịch số 15/2003/TTLT-BKHCN-BNV ngày 15/7/2003 của Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Nội vụ. Tổng số CBCC giảm từ 64 người xuống còn người xuống còn 36, với tuổi đời bình quân trên 45.

taptheso-1.jpg

Đến nay, tổ chức và bộ máy của Sở đã thực sự lớn mạnh gồm 8 phòng chức năng (Văn phòng Sở, Phòng Kế hoạch Tài chính, Phòng Quản lý Khoa học, Phòng Quản lý Công nghệ, Phòng Quản lý Sở hữu trí tuệ, Phòng Quản lý Khoa học và công nghệ cơ sở, Phòng Pháp chế, Thanh tra Sở) và thành lập các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở để thực hiện các nhiệm vụ công ích, dịch vụ công về khoa học công nghệ, đồng thời làm nhân tố, đầu mối hình thành các tổ chức, dịch vụ khoa học công nghệ để chủ động tham gia vào các hoạt động khoa học công nghệ trên địa bàn tỉnh, gồm Trung tâm Tin học và Thông tin KHCN, Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KHCN, Trung tâm Ứng dụng CNSH, Trung tâm Phát triển phần mềm, Chi cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng, Ban quản lý dự án và các bộ phận chuyên trách như Văn phòng Tiết kiệm năng lượng, Văn phòng Thông báo và Hỏi đáp về rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT­)­­­­; Văn phòng Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Một nét mới trong tổ chức bộ máy của Sở là đầu tư nhà làm việc tại TP.HCM (Văn phòng 2) để thu hút nhân lực KH&CN tại Tp.HCM làm việc cho Đồng Nai và phòng Quản lý khoa học và công nghệ cơ sở được thành lập với 13 cán bộ: 2 cán bộ làm việc tại Sở và 11 cán bộ Sở điều động xuống làm việc lâu dài tại phòng Công thương/phòng Kinh tế. Việc tuyển dụng cán bộ bố trí về huyện, ngoài tiêu chuẩn về chuyên môn còn phải đáp ứng điều kiện định cư lâu dài tại huyện sẽ công tác.

Các cán bộ của Phòng Quản lý KH&CN cơ sở làm việc tại các huyện chịu sự chỉ đạo chuyên môn từ Sở, được Sở trả lương và được hưởng chính sách ưu đãi như được trang bị máy tính xách tay, cấp nhiên liệu, thanh toán công tác phí... UBND các huyện quản lý cán bộ này về các công tác Đảng, Đoàn, công đoàn, và sinh hoạt hằng ngày tại địa phương, đồng thời trang bị bàn, ghế, và các trang thiết bị cần thiết khác phục vụ công tác chuyên môn, đề xuất khen thưởng và kỷ luật cán bộ.

Hàng tuần hoặc đột xuất cán bộ ở huyện báo cáo về Sở qua mạng văn phòng I-Office để kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc và thứ hai tuần đầu của mỗi tháng về Sở họp giao ban với lãnh đạo Sở, các Trưởng bộ phận thuộc Sở và được tập huấn nhiệm vụ chuyên môn theo phương pháp “cầm tay chỉ việc”.

Đội ngũ này có vai trò đề xuất và triển khai các chương trình khoa học công nghệ để tác động đến huyện ủy, UBND huyện phải quan tâm chỉ đạo, huy động lực lượng ban, ngành của huyện tham gia vào Chương trình, đồng thời là gạch nối cho Hệ thống thông tin khoa học công nghệ xuyên suốt từ tỉnh đến huyện xã khi hoàn thành việc xây dựng các điểm thông tin khoa học công nghệ tại Trung tâm Văn hóa, Thể thao và Học tập cộng đồng của tất cả các xã.

5. Các chương trình tác động gây hiệu ứng cho hoạt động khoa học và công nghệ:

+ Chợ Công nghệ, Thiết bị và Thương mại (Techmart)

chocongnghethietbi.jpg

Từ năm 2003, hoạt động khoa học và công nghệ bắt đầu tập trung hỗ trợ nông nghiệp và đời sống nông thôn. Mô hình “Chợ Công nghệ và Thiết bị (Techmart) nông thôn trên địa bàn các huyện” là một trong các hoạt động đó. Năm 2003, lần đầu tiên tổ chức Chợ Công nghệ và Thiết bị với tên là Chợ máy nông nghiệp tại Thị xã Long Khánh nhằm giúp người dân tiếp cận với công nghệ thiết bị chủ yếu là máy nông nghiệp phục vụ cơ giới hóa nông nghiệp, nông thôn. Các năm tiếp theo được tổ chức dưới hình thức Chợ công nghệ, thiết bị và thương mại: Năm 2004, tại huyện Tân Phú; năm 2005, tại huyện Xuân Lộc; năm 2006, tại huyện Long Thành; năm 2007, tại huyện Định Quán; năm 2008, tại huyện Cẩm Mỹ; năm 2009, tại Thị xã Long Khánh; năm 2010, chủ trì phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh tổ chức Chợ Công nghệ, Thiết bị và Thương mại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam tại Đồng Nai với quy mô khu vực; năm 2015, Chợ Công nghệ, Thiết bị và Thương mại Vùng Đông Nam bộ - Đồng Nai 2015. Qua 09 lần tổ chức đã khẳng định đây là một mô hình đặc trưng và có hiệu quả nhằm phổ biến rộng rãi các thành tựu nghiên cứu và ứng dụng khoa học, đưa tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất và đời sống phục vụ phát triển kinh tế - xã hội các vùng nông thôn; tạo cơ hội để nông dân tiếp cận trực tiếp với các loại máy móc, thiết bị trong sản xuất nông nghiệp và đời sống nông thôn; nâng cao nhận thức về khoa học và công nghệ; tạo điều kiện cho nhà nông trực tiếp giao lưu, trao đổi với các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý về nhiều vấn đề trong chăn nuôi, trồng trọt; đặc biệt đã tạo hiệu ứng cao cho hoạt động khoa học và công nghệ v.v…

+ Chương trình KHCN hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, áp dụng hệ thống quản lý tiên tiến và bảo hộ sở hữu trí tuệ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 2011 - 2015 (kế thừa đề án phát triển năng suất chất lượng 2006-2015).

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế với các nước trong khu vực và thế giới, mỗi tổ chức, doanh nghiệp cần xây dựng những chính sách phù hợp trên cơ sở tiếp thu những thành tựu khoa học và công nghệ để đổi mới hoạt động quản lý của mình. Trong đó, hệ thống quản lý tiên tiến theo các tiêu chuẩn quốc tế là một trong những giải pháp được các đơn vị quan tâm lựa chọn nhằm nâng cao hơn nữa năng lực quản lý trên nhiều khía cạnh hoạt động của đơn vị mình, đáp ứng nhu cầu thực tế, xu thế cạnh tranh toàn cầu hóa hiện nay.

Từ Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám BCH Trung ương Đảng (khóa VII) tháng 01/1995 đã đặt cải cách hành chính thành một nội dung quan trọng, trọng tâm của công cuộc tiếp tục xây dựng và kiện toàn Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam. Từ đó, cho thấy mục tiêu chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010 là xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch vững mạnh, chuyên nghiệp và hiện đại hóa, họat động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng, đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Đồng thời, từ sau Hội nghị Chất lượng Việt Nam lần thứ nhất vào năm 1995 nhằm triển khai Thập niên chất lượng lần thứ nhất, đã xác định việc đổi mới trong hoạt động cung cấp dịch vụ công và nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp là hết sức cần thiết, chính vì thế Tỉnh ủy và UBND tỉnh Đồng Nai đã có chủ trương tạo điều kiện và khuyến khích cho các cơ quan quản lý hành chính  nhà nước, các doanh nghiệp bắt đầu áp dụng các hệ thống quản lý tiên tiến. Chủ trương này được xây dựng thành một trong những chương trình phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng của tỉnh Đồng Nai và giao trách nhiệm cho Sở Khoa học và Công nghệ triển khai thực hiện cho các tổ chức, doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh. 

Tính từ năm 1998 đến nay, công tác hỗ trợ xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý tiên tiến trên địa bàn tỉnh luôn hướng đến mục tiêu đổi mới phương thức cung cấp dịch vụ công của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp. Trải qua 15 năm đồng hành cùng các tổ chức, doanh nghiệp của tỉnh nhà, quá trình hỗ trợ xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý tiên tiến cho các tổ chức/doanh nghiệp có thể chia ra thành ba giai đoạn với ba chương trình cụ thể như sau:

Giai đoạn 1 (1998 - 2005): Đây là giai đoạn được xem tạo bước đột phá với tên gọi Chương trình hỗ trợ các doanh nghiệp, tổ chức tiến hành xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng do Ban Hợp tác kinh tế quốc tế tỉnh Đồng Nai phê duyệt.

Tổng kết chương trình, Sở Khoa học và Công nghệ đã hỗ trợ cho 27 doanh nghiệp và 09 đơn vị hành chính/sự nghiệp của tỉnh Đồng Nai xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001. Trong đó, Sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan hành chính nhà nước đầu tiên trong cả nước áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001 theo hình thức ISO online.

Giai đoạn 2 (2006 - 2010): Với những thành quả đã đạt được trong giai đoạn 1, Sở Khoa học và Công nghệ tiếp tục được giao nhiệm vụ tổ chức triển khai thực hiện công tác hỗ trợ với tên gọi Chương trình hỗ trợ xây dựng và áp dụng các hệ thống quản lý tiến tiến cho các tổ chức/doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Tổng kết chương trình, Sở Khoa học và Công nghệ đã hỗ trợ cho 21 cơ quan hành chính nhà nước xây dựng và áp dụng ISO hành chính công; 01 cơ quan quản lý hành chính nhà nước xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý an ninh thông tin theo tiêu chuẩn ISO/IEC 27000; 01 đơn vị sự nghiệp xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001; 01 đơn vị sự nghiệp xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14000; đồng thời hỗ trợ cho 11 doanh nghiệp xây dựng và áp dụng các hệ thống quản lý tiên tiến như hệ thống quản lý an toàn thực phẩm ISO 22000, hệ thống quản lý môi trường ISO 14000, hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008, hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn HACCP.

Giai đoạn 3 (2011 - 2015): Trên cơ sở tiếp tục kế thừa và đánh giá kết quả thực hiện các chương trình hỗ trợ cho cơ quan hành chính nhà nước và doanh nghiệp trong giai đoạn 2, Sở Khoa học và Công nghệ tiếp tục thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ:

hotrodoanhnghiep.jpg 

- Đối với các cơ quan hành chính nhà nước: Hỗ trợ xây dựng và áp dụng ISO hành chính công (ISO 9001: 2008). Kết quả giai đoạn 2011-2013, đã hỗ trợ cho 59 lượt cơ quan quản lý hành chính nhà nước xây dựng và áp dụng ISO hành chính công (trong đó 45 lượt cơ quan thực hiện theo mô hình khung của Bộ Khoa học và Công nghệ và 14 cơ quan không thuộc mô hình khung của Bộ).

Bên cạnh việc đánh giá sơ kết và tổng kết chương trình, Sở Khoa học và Công nghệ tiếp tục triển khai thực hiện nhiệm vụ xây dựng hệ thống các tiêu chí nhằm đánh giá hiệu quả áp dụng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001 tại các cơ quan quản lý hành chính nhà nước theo yêu cầu kiểm soát thủ tục hành chính trong bộ máy quản lý hành chính nhà nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nói riêng để việc áp dụng ISO hành chính công thực sự là công cụ hữu hiệu nhằm thực hiện cải cách hành chính chứ không phải là “giấy phép thông hành” theo đánh giá của nhiều người.

- Đối với doanh nghiệp: Hỗ trợ các đơn vị theo Quyết định số 712/QĐ-TTg ngày 21/5/2010 của Thủ tướng Chính Phủ về việc phê duyệt chương trình quốc gia “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020” và Nghị quyết số 188/2010/NQ-HĐND ngày 09/12/2010 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai về mục tiêu, nhiệm vụ và phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng - an ninh 5 năm 2011-2015 thông qua Chương trình khoa học và công nghệ hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, bảo hộ sở hữu trí tuệ trong quá trình hội nhập giai đoạn 2011-2015 (thay thế Đề án Phát triển Năng suất Chất lượng của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2006 - 2015 ở giai đoạn 2).

Theo số liệu thống kê báo cáo, tính đến thời điểm hiện tại, Sở Khoa học và Công nghệ đã hỗ trợ cho 32 doanh nghiệp xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý tiên tiến như VietGap, ISO 9001, ISO 14000.

Có thể khẳng định rằng, qua kết quả hỗ trợ từ các chương trình thực hiện áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến cho cơ quan hành chính nhà nước và doanh nghiệp từ năm 1998 đến nay, đã đem lại một số hiệu quả nhất định:

Một là, bên cạnh giúp cho các cơ quan hành chính nhà nước cải tiến được cách thức quản lý và thay đổi cách thức cung ứng các dịch vụ công còn giúp lãnh đạo đơn vị nắm bắt được mọi hoạt động của các đơn vị; xác định rõ vai trò, trách nhiệm của mỗi CBCC, mỗi phòng ban trong từng công việc thông qua việc xác định tiến độ của công việc và các bước thực hiện công việc được rõ ràng;

- Hạn chế không phải đi lại nhiều của các tổ chức, công dân trong việc thực hiện các thủ tục hành chính;

- Khai thác hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong việc xây dựng và áp dụng ISO hành chính công trong công tác quản lý và điều hành;

- Hồ sơ, tài liệu được sắp xếp gọn gàng và được kiểm soát chặt chẽ; do đó không bị thất lạc, không mất nhiều thời gian truy lục hồ sơ khi cần thiết.

Hai là, bên cạnh giúp cho các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua việc nâng cao và đảm bảo sự ổn định về năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa của mình, việc áp dụng các công cụ quản lý chất lượng tiên tiến còn tăng lòng tin của khách hàng dành cho sản phẩm và uy tín của doanh nghiệp;

- Nâng cao tinh thần, thái độ phục vụ của nhân viên và giúp họ tự tin hơn vào công việc;

- Giảm được chi phí không cần thiết, tiết kiệm nguyên liệu và luôn cải tiến kỹ thuật, năng lực sáng tạo và ý thức bảo vệ môi trường.

Những kết quả trên của chương trình là phần hoạt động khoa học và công nghệ đóng góp thiết thực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, cũng như thực hiện tích cực cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” hướng đến xây dựng Đồng Nai thành tỉnh cơ bản công nghiệp hóa - hiện đại hóa vào năm 2015.

+ Phát triển phong trào hội thi liên quan đến hoạt động khoa học và công nghệ.

phongtraohoithi.jpg
Phong trào quần chúng tiến quân vào khoa học - kỹ thuật là một cuộc vận động lớn mà Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, khuyến khích phát triển. Theo đó, Sở KH&CN Đồng Nai xuyên suốt 12 năm qua đã không ngừng lãnh đạo triển khai các phong trào hội thi liên quan đến hoạt động khoa học và công nghệ với mục đích nhằm tập hợp ngày càng đông đảo hơn mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội tập trung trí tuệ, phát huy sáng kiến, sáng tạo để tạo ra ngày càng nhiều hơn các giải pháp kỹ thuật có khả năng áp dụng vào thực tế sản xuất và đời sống. Từ năm 2003 đến nay, Sở đã tổ chức thành công 11 phong trào, hội thi thuộc nhiều lĩnh vực liên quan đến hoạt động khoa học và công nghệ.

- “Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Đồng Nai” được tổ chức từ những năm 1990. Từ đó đến nay, hội thi đã không ngừng được xây dựng kiện toàn. Đặc biệt trong 11 năm qua, hội thi đã được liên tục tổ chức hằng năm. Nhiều tài năng sáng tạo, nhiều giải pháp kỹ thuật mới được phát hiện. Trung bình hàng năm có đến gần 40 giải pháp kỹ thuật tham gia dự thi, trong đó trung bình có 20 giải pháp kỹ thuật đã đoạt giải. Phần lớn các giải pháp được hình thành từ thực tế lao động, sản xuất, học tập, trong đó nhiều giải pháp được áp dụng, nhân rộng đem lại giá trị kinh tế lớn cho xã hội; 

phongtraohoithi-1.jpg
- Cùng với Hội thi Sáng tạo kỹ thuật, Chương trình “Phát huy sáng kiến, sáng tạo trong lao động và học tập” cũng được triển khai từ năm 2001. Chương trình được triển khai rộng khắp trong xã hội nhằm phát động, thôi thúc mọi tầng lớp nhân dân, cán bộ, công chức, viên chức, công nhân viên trong các cơ quan, ban ngành, tổ chức, đoàn thể, hiệp hội ra sức lao động, phát huy sáng kiến, sáng tạo trong công việc hàng ngày để tạo ra các giải pháp kỹ thuật có giá trị nâng cao năng suất, chất lượng công việc, trình độ nghề nghiệp; những sáng kiến, cải tiến kỹ thuật phục vụ sản xuất và đời sống; các tác phẩm văn hóa, nghệ thuật giàu tính nhân văn mang tính giáo dục cao, nhất là đối với thế hệ trẻ v.v… góp phần xây dựng phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa. Kết quả 11 năm qua, đã có 2.062 giải pháp/tác phẩm tham gia dự thi, trong đó có 319 giải pháp/tác phẩm đã đoạt giải.

- Ngoài ra, Sở còn phát triển các hội thi khác như Hội thi Lãnh đạo xã, phường giỏi công nghệ thông tin; Hội thi cán bộ tuyên giáo giỏi công nghệ thông tin; Hội thi Phụ nữ giỏi công nghệ thông tin; Hội thi Giáo viên giỏi ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy; Hội thi Doanh nghiệp giỏi ứng dụng công nghệ thông tin; Giải thưởng Sản phẩm truyền thông khoa học và công nghệ Đồng Nai; Hội thi Tìm hiểu giá trị văn hóa - lịch sử Đồng Nai.

Với những con số về hội thi, có thể nói Sở KH&CN Đồng Nai là Sở có số lượng và số lần tổ chức các phong trào hội thi liên quan đến hoạt động khoa học và công nghệ nhiều nhất so với các Sở KH&CN trong cả nước. Đặc biệt, các phong trào hội thi có tác dụng kích thích, gây hiệu ứng mạnh, làm cho hoạt động khoa học và công nghệ thêm tích cực.

6. Các phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước; Các giải thưởng danh giá của các cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế trao tặng.

 Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Bộ Khoa học và Công nghệ, cùng với sự ủng hộ, phối hợp chặt chẽ của các ngành, doanh nghiệp, tổ chức khoa học - công nghệ, các chuyên gia, nhà khoa học, đặc biệt sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cơ quan, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đồng Nai đã liên tục các năm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý:

-  Huân chương Lao động hạng Ba, năm 1985;

-  Huân chương Lao động hạng Nhì, năm 2000;

-  Huân chương Lao động hạng Nhất, năm 2007;

-  Huân chương Độc lập hạng Ba, năm 2011;

- Cờ thi đua Chính phủ các năm liền: 2004; 2005; 2006; 2007; 2008; 2009; 2010; 2011; 2012, 2013, 2014.

- Cờ thi đua xuất sắc của Bộ Khoa học và Công nghệ năm 2007, 2008, 2009, 2010, 2011; 2012, 2013, 2014.

-  Bằng khen của Bộ Khoa học và Công nghệ về nhiều thành tích đạt được;

-  Và liên tục các năm được UBND tỉnh Đồng Nai tặng thưởng “Cờ thi đua”.

Đặc biệt, trong 10 năm gần đây, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đồng Nai đã không ngừng phát triển các sản phẩm công nghệ thông tin đạt nhiều giải thưởng có giá trị trong và ngoài nước; và gần đây nhất, nhiều sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ sinh học được phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng.

hoinghicanbocongchuc.jpg

II. Định hướng tương lai

1. Phấn đấu xây dựng Đồng Nai thành tỉnh có một nền khoa học và công nghệ đạt trình độ tiên tiến so với trình độ chung của khu vực; từng bước hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức, cơ bản có khả năng tự chủ những công nghệ tiên tiến trong các lĩnh vực chính của nền kinh tế với chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, có sức cạnh tranh cao; trở thành động lực trực tiếp đối với một tỉnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

2. Đẩy mạnh đầu tư phát triển tiềm lực KH&CN theo hướng tập trung nghiên cứu ứng dụng ở 3 lĩnh vực ưu tiên là: phát triển nông nghiệp, nông thôn; thực hiện cải cách hành chính và đào tạo phát triển nguồn nhân lực KH&CN; Trong đó tiếp tục khẳng định 3 lĩnh vực mũi nhọn trong hoạt động là: phát triển công nghệ thông tin; phát triển công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp, nông dân, nông thôn và đào tạo thu hút phát triển nguồn nhân lực KH&CN là động lực chính để phát triển khoa học và công nghệ bền vững góp phần tích cực vào sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH của tỉnh, xứng tầm với một địa phương thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của Tổ quốc.

3. Xây dựng các luận cứ khoa học cho phát triển kinh tế-xã hội và cải cách thủ tục hành chính; Đẩy mạnh nghiên cứu đổi mới cơ chế chính sách khoa học và công nghệ phục vụ phát triển cả chiều rộng và chiều sâu và thực hiện xã hội hóa để thu hút các nguồn lực đầu tư cho khoa học và công nghệ phát triển.

Với các mục tiêu định hướng trên, tập thể Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đồng Nai phấn đấu “Cất cánh tàu bay khoa học và công nghệ Đồng Nai và làm chủ một phần bầu trời khoa học và công nghệ Việt Nam” vào năm 2020./.