Bỏ qua Lệnh Ruy-băng Bỏ qua nội dung chính
Hình ảnh liên kết
Liên kết website trong tỉnh
Liên kết website các tỉnh
Lượt truy cập

 

 Nội dung tin

 
Đào tạo nguồn nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh   28-08-2017
Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng là: “Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội”. Vấn đề đặt ra là cần đánh giá thực trạng công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay ra sao để có giải pháp hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế.

TS.Bùi Quan Xuân, Trường đại học công nghệ Đồng Nai phát biểu tại Hội thảo KH&CN Đồng Nai: Thành tựu - Tầm nhìn

*Nguồn nhân lực chất lượng cao

Nguồn nhân lực là một yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất. Nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận của nguồn nhân lực nói chung, nhưng là một bộ phận đặc biệt, bao gồm những người có trình độ học vấn từ cao đẳng, đại học trở lên đang làm việc trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, có những đóng góp thiết thực và hiệu quả cho sự phát triển bền vững của cộng đồng nói riêng và toàn xã hội nói chung[1]. 

Với cách hiểu như vậy, có thể đưa ra 6 tiêu chí để đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao đó là:

- Khả năng thích ứng nhanh nhất với môi trường lao động và với tiến bộ khoa học công nghệ mới, với năng lực chuyên môn và trình độ thành thạo nghiệp vụ cao. 

- Có ý chí vượt khó, bền bỉ trong công việc, có năng lực kiềm chế bản thân...

- Có đạo đức nghề nghiệp thể hiện qua tinh thần kỷ luật, ý thức trách nhiệm, tinh thần dân chủ, hợp tác và ý thức về tập thể, vì cộng đồng cao.

- Có kỹ năng làm việc nhóm, khả năng thay đổi, thích ứng nhanh, hội nhập cao, có sáng kiến đột phá, sáng tạo trong công việc...

- Có năng lực thực tế tạo nên kết quả cao và vượt trội trong công việc, có năng lực cạnh tranh, có đóng góp thực sự hữu ích cho xã hội...

* Thực trạng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay

Hiện tại, Việt Nam đang sở hữu một nguồn nhân lực khá dồi dào về số lượng nhưng lại rất hạn chế về mặt chất lượng. Cả nước có khoảng 14.000 tiến sĩ và tiến sĩ khoa học; 1.432 giáo sư; 7.750 phó giáo sư; 16.000 thạc sĩ; 30.000 cán bộ hoạt động khoa học và công nghệ; 52.129 giảng viên đại học, cao đẳng, trong số đó 49% giảng viên đại học có trình độ thạc sĩ trở lên. Cả nước hiện có 14.000 giáo viên trung cấp chuyên nghiệp; 11.200 giáo viên dạy nghề và 925.000 giáo viên hệ phổ thông. Trong số 9.000 tiến sĩ được điều tra thì có 70% giữ chức vụ quản lý, chỉ có 30% thực sự làm công tác chuyên môn[2]. Theo kết quả điều tra gần đây, hiện tại ở nước ta 63% số sinh viên tốt nghiệp đại học chưa có việc làm, nhiều cơ quan, doanh nghiệp nhận sinh viên vào làm việc phải mất từ 1 đến 2 năm đào tạo lại. Trong số 37% sinh viên ra trường có việc làm thì về cơ bản cũng chưa đáp ứng được yêu cầu công việc... Rõ ràng là chất lượng nguồn nhân lực của nước ta chưa cao, có sự mâu thuẫn giữa lượng và chất của nguồn nhân lực chất lượng cao.

Sở KH&CN tỉnh Đồng Nai ký kết hợp tác với các cơ sở đào tạo tại TPHCM.

Nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta đang còn rất nhiều vấn đề bất cập. Số lượng lao động qua đào tạo ở trình độ từ đại học trở lên ngày một gia tăng, nhưng chất lượng của lao động qua đào tạo, khả năng thích ứng công việc và phát huy kết quả đào tạo của số lao động này lại rất thấp.

Thực trạng này được lý giải như thế nào? Theo chúng tôi nguyên nhân của thực trạng trên phải được xem xét trên cả 3 phương diện: đào tạo, sử dụng và đãi ngộ. Trên thực tế, chúng ta vẫn thường nói đào tạo nguồn nhân lực phải dựa vào nhu cầu, vào xu hướng phát triển của nền kinh tế, đào tạo đúng địa chỉ sử dụng, tiếp cận tinh hoa tri thức nhân loại... Nhưng thực tế, chúng ta chưa đạt hiệu quả mong muốn.

Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã rất chú ý đến công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Mặc dù có rất nhiều cố gắng và triển vọng, song công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta còn gặp một số khó khăn và hạn chế. 

Trước hết là hạn chế về khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu xã hội trên 2 phương diện: Đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu về số lượng, dự báo hằng năm đào tạo mới chỉ đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu của xã hội; Đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, 80% đến 90% số sinh viên ra trường vừa được tuyển dụng cần phải đào tạo lại ít nhất là một năm. 

Hạn chế thứ hai là sự mất cân đối về số lượng giữa các ngành nghề được đào tạo do sự thiếu định hướng trong việc chọn nghề và chọn trường cho sinh viên. Trên thực tế, việc chọn trường, chọn ngành học của học sinh, sinh viên nhiều khi lại dựa vào các quyết định cảm tính, mơ hồ như ngành đó, trường đó đang là “mốt”, gia đình có người thân quen, trường này dễ đỗ, trường kia “danh giá”... Điều này dẫn đến cung - cầu về nhân lực chất lượng cao vẫn luôn ở trạng thái “thiếu vẫn thiếu, thừa vẫn thừa”, gây lãng phí cho các gia đình và cho cả xã hội. Những hạn chế trên có nguyên nhân từ những khó khăn về cơ sở vật chất, về nội dung chương trình đào tạo, về phương pháp giảng dạy, về đội ngũ giảng viên.

* Đồng Nai làm gì trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao?

Trong những năm qua, giáo dục và đào tạo ở nước ta đã có những chuyển biến tích cực và góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những tồn tại, bất cập. Sau nhiều năm đổi mới, “chất lượng giáo dục và đào tạo còn thấp, nhiều vấn đề hạn chế, yếu kém chậm được khắc phục(1). Tính độc lập, sáng tạo trong tư duy và kỹ năng thực hành của học sinh, sinh viên còn yếu; giáo dục chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển kinh tế, chưa theo kịp xu thế toàn cầu hoá và xu thế cạnh tranh ngày càng quyết liệt, chưa đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống kinh tế hiện đại.

Nguồn nhân lực nhân tố quyết định cho sự phát triển một nền kinh tế và nền kinh tế Đồng Nai cũng không phải ngoại lệ. Đó là lý do mà tỉnh Đồng Nai đã có những bước đi quan trọng để cải tiến giáo dục ở mọi cấp học[3]. Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2020, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ X (2015-2020) và đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm trong thực hiện Chương trình đào tạo phát triển nguồn nhân lực tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2020; UBND tỉnh Đồng Nai ban hành Chương trình đào tạo phát triển nguồn nhân lực tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2016 – 2020.  Chương trình đào tạo phát triển nguồn nhân lực tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2016 - 2020 gồm có 07 mục tiêu, trong đó, đặc biệt chú trọng đến việc đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng trường học đạt tiêu chuẩn, trang thiết bị dạy học cũng như các điều kiện khác nhằm tạo bước chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo, ứng dụng công nghệ hiện đại trong dạy và học, tiếp cận với chuẩn mực giáo dục tiên tiến, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh[4].

Động lực phát triển của nền kinh tế Đồng Nai  là 3 lĩnh vực chia thành 11 ngành kinh tế trọng điểm: lĩnh vực Công nghiệp - Xây dựng bao gồm các ngành sản xuất, phân phối điện, nước nóng và khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và ngành khai khoáng; Lĩnh vực Dịch vụ bao gồm ngành Vận tải - Kho bãi, ngành Thông tin và Truyền thông, ngành Bán buôn - bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác; Ngành Dịch vụ lưu trú và ăn uống, ngành Tài chính, ngân hàng và bảo hiểm và ngành Giáo dục Đào tạo; Lĩnh vực Nông nghiệp gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; 11 ngành này sẽ đóng góp 95% GDP của Đồng Nai đến năm 2020.

Cùng với những nỗ lực như trên, một điều cực kỳ quan trọng là chúng ta không thể không quan tâm phát triển ngành tự động hóa, đồng thời đầu tư cho các nhóm nghiên cứu sâu về các lĩnh vực kỹ thuật số, công nghệ thông tin, năng lượng và vật liệu mới, công nghệ sinh học... Xét đến cùng, vấn đề quan trọng là phải đào tạo, phát huy và sử dụng được nhân tài, thu hút được nhiều chuyên gia có trình độ cao tham gia làm việc, sáng tạo. Vấn đề này nhiều năm qua chúng ta đã bàn nhưng hiện tượng chảy máu chất xám vẫn xảy ra phổ biến. Trong giai đoạn hiện nay, cần phải có chính sách đột phá về sử dụng nhân tài. Với sự quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, tin rằng nước ta sẽ tận dụng được cơ hội, vừa có nội lực để vượt qua những tác động khó lường của CMCN 4.0.

Đối với các cơ sở giáo dục trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học cần tập trung vào đổi mới chương trình đào tạo chuyên ngành theo hướng bám sát nhu cầu nhân lực của Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, dựa trên nhu cầu và định hướng phát triển của tỉnh để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho thị trường, chủ động hợp tác với doanh nghiệp để đào tạo theo đơn đặt hàng. Tỉnh cũng cần ưu tiên xây dựng các trung tâm nghiên cứu có gắn kết chặt chẽ với các trường đại học công nghệ trong nước, quốc tế để đào tạo chuyên gia trong một số lĩnh vực chuyên sâu, phát triển sản phẩm, ươm mầm kỹ sư giỏi trong tương lai, đặc biệt là trong các chuyên ngành, như: Điện toán đám mây, IoT, công nghệ sinh học, truyền thông, xử lý và phân tích dữ liệu lớn, nhằm tạo nền tảng cho việc tiếp thu, xây dựng và phát triển công nghiệp thông minh. Các bậc học phổ thông cần tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy (mô phỏng, số hóa tài liệu - bài giảng, đào tạo theo phương pháp trực tuyến), tăng cường sự hiểu biết của học sinh về các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán (STEM - Science, Technology, Engineering and Mathematics), giáo dục tại các cấp học này cần tạo cho học sinh một sự hiểu biết sâu sắc, làm chủ lĩnh vực kỹ thuật số, bao gồm lập trình, phát triển ứng dụng, đổi mới công nghệ để học sinh có thể định hình kỹ năng của tương lai.

Đặc biệt, cần nâng cao năng lực và chất lượng của đội ngũ nhà giáo, cán bộ nghiên cứu và cán bộ quản lý của các cơ sở giáo dục. Để làm được điều này, ngành Giáo dục cần tăng cường các cơ chế khuyến khích, tạo điều kiện tốt cho các giảng viên, giáo viên, đặc biệt là các giảng viên, giáo viên trẻ trong trường tham gia hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, góp phần tạo lập được môi trường giáo dục sáng tạo và tính tự lập cao. Thêm nữa, Đồng Nai cần xây dựng nền văn hóa học tập suốt đời tại nơi làm việc để kế thừa từ “giáo dục cho việc làm” sang “giáo dục cho tuyển dụng” và từ “bảo vệ việc làm” sang “bảo vệ nghề nghiệp”.

Xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ là động lực kinh tế chính của Đồng Nai, vì vậy, bên cạnh việc lãnh đạo các địa phương, sở, ngành cần tập trung triển khai các nhiệm vụ cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh năm 2017, định hướng đến năm 2020. Các doanh nghiệp cũng cần tìm hiểu, nắm bắt văn hóa hợp tác mới với các nhà cung cấp, đối tác kinh doanh, khách hàng theo thị hiếu 4.0, đẩy mạnh tự động hóa trong sản xuất, tận dụng những cơ hội, đồng thời có phương án chủ động hạn chế những rủi ro.

Yếu tố then chốt thứ ba để chuẩn bị cho nền kinh tế, khi Đồng Nai tiếp cận Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, đó là sự kết nối. Đồng Nai là một trong những địa phương đi đầu trong việc triển khai chính quyền điện tử, hạ tầng Viễn thông và Công nghệ thông tin (ICT) hoạt động ổn định, đảm bảo kết nối thông suốt từ các đơn vị cấp tỉnh xuống cấp xã; 40% hộ gia đình và 100% doanh nghiệp có thể truy cập internet tốc độ cao, mạng 4G đã phủ sóng tất cả các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh, các hệ thống thông tin phục vụ công tác quản lý cũng đã đưa vào vận hành, tạo thuận lợi trong công tác quản lý của ngành và hoạt động chuyên môn đảm bảo đáp ứng đúng yêu cầu quản lý nhà nước từ tỉnh đến cơ sở; đồng thời hình thành được một số cơ sở dữ liệu của tỉnh phục vụ công tác quản lý và cung cấp các dịch vụ công trực tuyến cho người dân, doanh nghiệp. Những kết quả này mới chỉ là bước đi cơ bản ban đầu trong việc kết nối thông tin để hướng đến tin học hóa đô thị, để Đồng Nai trở thành tỉnh năng động, bền vững, linh hoạt, hấp dẫn hơn và sáng tạo hơn, thì chắc chắn đó phải là một kết nối mới dựa trên khái niệm thành phố thông minh. Tuy nhiên, cần huy động nhiều nguồn lực, do đó Đồng Nai cần tiến hành một cách cẩn trọng, tận dụng những lợi thế tốt nhất, tiếp tục có những chính sách hiệu quả để thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ đối với hạ tầng ICT, hạ tầng băng rộng, đảm bảo sự phát triển một cách vững chắc. Kết nối không chỉ là kỹ thuật số, cơ sở hạ tầng giao thông cũng rất cần thiết, cơ sở hạ tầng giao thông hiện đại sẽ cho phép Đồng Nai gia tăng giá trị và đa dạng hoá ngành hàng xuất khẩu, mở ra các hướng mới cho phát triển kinh tế.

·   Một số giải pháp để đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Xuất phát từ thực trạng này, để đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế một cách hợp lý và bền vững trong điều kiện hiện nay và cả trong những năm tới Đồng Nai cần:

Việc đổi mới tư duy giáo dục hiện nay cần “gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; hệ thống giáo dục được chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và mang đậm bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến ở khu vực”[5] như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của Đảng khẳng định. Các cấp, các ngành, trước hết là Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có sự thay đổi một cách mạnh mẽ về tư duy trong tổ chức giáo dục đại học, như thay đổi cách tuyển sinh, lựa chọn “đầu vào” theo hướng thoáng hơn, cho phép các cơ sở giáo dục đại học tự đặt ra các tiêu chuẩn tuyển sinh và chịu trách nhiệm với người học bằng chính “uy tín” đào tạo của mình, cho phép hình thành nhiều mô hình đào tạo đại học khác nhau, kiểm soát chặt chẽ “đầu ra” của mỗi cơ sở đào tạo để bảo đảm chất lượng chung… 

PGS.TS Phạm Văn Sáng trao bằng khen của UBND tỉnh cho học viên tham gia chương trình đào tạo sau đại học.

Đổi mới mạnh mẽ nội dung chương trình và phương pháp dạy học theo hướng hội nhập quốc tế. Nội dung chương trình và giáo trình cần được tổ chức xây dựng và triển khai theo hướng mở (cho phép cập nhật thường xuyên về kiến thức trong và ngoài nước, sử dụng giáo trình, học liệu trong nước hoặc ngoài nước một cách linh hoạt để giảng dạy cho người học), nội dung giảng dạy phải gắn chặt và phù hợp với yêu cầu thực tiễn của ngành nghề mà người học đang theo đuổi. Về phương pháp, cho phép sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học theo nguyên tắc “lấy người học là trung tâm”, giảm tải tối đa giờ giảng trên lớp để người học có thời gian tự học và tự nghiên cứu. Tất nhiên, các cơ sở đào tạo cần thường xuyên thực hiện việc kiểm tra, đánh giá khách quan, chặt chẽ để bảo đảm tính hiệu quả của việc dạy và học.

Cần đầu tư có chiều sâu và hiệu quả để các trường đại học trọng điểm đi đầu trong nghiên cứu KHCN mới nhằm tiệm cận với các nước tiên tiến. Đào tạo nhân lực về mặt công nghệ và tri thức mới cũng như xây dựng một môi trường hỗ trợ sáng tạo có ý nghĩa sống còn để thích nghi cuộc cách mạng này. Công tác giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phải gắn bó hữu cơ với chính sách sử dụng và đãi ngộ. Trên thực tế, hướng đào tạo này phải được xem xét trên cả hai phương diện: Đối với nhà trường, nơi đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, cần có sự nghiên cứu hợp tác với các chủ doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội trong việc biên soạn chương trình đào tạo. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cần đặc biệt chú ý đến đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia và cán bộ khoa học - công nghệ đầu đàn. Có chính sách phát triển đội ngũ chuyên gia, các nhà khoa học. Các trường đại học trọng điểm thu hút nhân tài trong giới khoa học, nghiên cứu và giảng dạy.

Cần phải có dự báo chính xác, kịp thời nhu cầu nhân lực chất lượng cao của các ngành, nghề trong tương lai. Làm tốt công tác dự báo nhu cầu nhân lực chất lượng cao là vấn đề mang tính quyết định trong việc đào tạo và phân bố nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đồng thời, tiên phong trong khởi nghiệp ở lĩnh vực công nghệ và tri thức, là nơi ươm mầm tài năng của đất nước trong giai đoạn phát triển và hội nhập quốc tế hiện nay.

KẾT LUẬN

Giáo dục và đào tạo không chỉ làm tăng hàm lượng chất xám và nguồn vốn tri thức trong quá trình sản xuất, làm tăng chất lượng nguồn nhân lực, mà còn tạo cơ sở để đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả của sản xuất, kinh doanh. Không chỉ thế, giáo dục và đào tạo còn làm tăng hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực trong xã hội; gia tăng tính bền vững trong quá trình phát triển kinh tế; nâng cao tính tích cực và năng lực sáng tạo của con người, tạo cơ sở để giải quyết việc làm, chuyển đổi ngành nghề, chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế; tăng tính thích nghi của nguồn lực con người và tính linh hoạt của nền kinh tế trong điều kiện cạnh tranh ngày càng quyết liệt; tăng sức hút đối với các nguồn lực bên ngoài; tăng sức mạnh nội lực và tính hiệu quả trong việc chủ động hội nhập quốc tế. Tất cả những điều này đã tạo động lực cho sự phát triển kinh tế tri thức. Và, Đồng Nai muốn thu hút nhân lực chất lượng cao, muốn tập hợp và duy trì được đội ngũ cán bộ giỏi, có trình độ và năng lực, một mặt cần phải bố trí phân công công việc phù hợp, biết tôn trọng nguyện vọng và sở trường của từng người, đồng thời cần tạo dựng môi trường làm việc tự do, dân chủ, khuyến khích lòng say mê, sáng tạo trong công việc, mặt khác có chính sách động viên, đãi ngộ, khuyến khích về lợi ích vật chất và tinh thần đối với những người có trình độ, có đóng góp với đơn vị với cộng đồng và xã hội. Có như vậy, mới bảo đảm cho công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đạt hiệu quả thực sự trong bối cảnh nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển và hội nhập mạnh mẽ hiện nay. Do vậy, Đồng Nai phải phát triển giáo dục và đào tạo để giải phóng và thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất và lấy đó làm khâu đột phá cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh không chỉ trong giai đoạn hiện nay, mà còn cho cả những năm tiếp theo.     

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.     Luật Giáo dục đại học của Việt Nam năm 2012 trong phần giải thích từ ngữ (Điều 4) không nêu định nghĩa về giáo dục đại học

2.     Vũ Quang Việt: So sánh chương trình giáo dục đại học Mỹ và Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học về tổ chức, quản lý giáo dục đại học, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2005

3.     Lê Minh Khôi: Giáo dục Việt Nam - nguy cơ tụt hậu khi ra trường, http://huc.edu.vn 

4.     Ngô Tứ Thành: Cần đổi mới cách giảng dạy ở đại học, dantri.com.vn, ngày 12-3-2010 

5.     Doanh nghiệp “chấm điểm” sinh viên, Báo Tuổi trẻ online, ngày 22-5-2014

6.     Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.130 - 131 

7.     Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám Khóa XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2013, tr.101

8.     PGS,TS. Đường Vinh Sường  Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 

 

In nội dung
Các tin đã đăng ngày
Chọn một ngày từ lịch.