Bỏ qua Lệnh Ruy-băng Bỏ qua nội dung chính
Tìm kiếm
Tìm kiếm
Danh bạ
Hình ảnh liên kết
Liên kết website trong tỉnh
Liên kết website các tỉnh
Lượt truy cập

 

 Nội dung

 
Đồng tiền cụ Hồ   21-01-2014
Nói đến đồng tiền Cụ Hồ, có lẽ nhiều người nghĩ rằng đó là những tờ giấy bạc 100đ, 1000đ, 2000đ, hoặc 5000đ. .. có hình Bác hiện đang lưu hành. Song nếu chỉ có ý nghĩa đơn thuần ấy thì chúng tôi không viết bài này.
Đồng tiền cụ Hồ

Đồng tiền cụ Hồ

 

 

Nói đến đồng tiền Cụ Hồ, có lẽ nhiều người nghĩ rằng đó là những tờ giấy bạc 100đ, 1000đ, 2000đ, hoặc 5000đ. .. có hình Bác hiện đang lưu hành. Song nếu chỉ có ý nghĩa đơn thuần ấy thì chúng tôi không viết bài này.

Ngược dòng thời gian, vào những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, ủy ban kháng chiến hành chánh Nam bộ đã ấn hành nhiều loại giấy bạc Việt Nam, còn gọi là tín phiếu dùng lưu hành nội bộ trong các vùng giải phóng. Đó là những tờ giấy bạc loại 1đ 5đ, 50đ và 100đ.. . có in chân dung Bác do đồng chí Phạm Văn Bạch, Chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chánh Nam bộ ký.

Năm 1954, hiệp định Giơ-ne-vơ ký kết. Đồng tiền này không còn giá trị về kinh tế, nhưng trên tấm tín phiếu có chân dung của Bác nên nhiều đồng bào ta ở miền Nam đã dũng cảm cất dấu xem như một kỷ vật thiêng liêng.

Đó là tấm lòng của bác Nguyẽn Văn Dực ấp 3, xã Bình Lợi, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Nguyễn Văn Ưu ở ấp Quới Thạnh, xã Phước An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Đây chỉ là hai bác nông dân bình thường như hàng vạn những người dân khác ở miền Nam mà lúc bấy giờ tầm hiểu biết của người nông dân còn hạn chế. Những người dân của Lục tỉnh Nam Kỳ chưa một lần được thấy Bác, chỉ được nghe kể về Bác bằng truyền miệng và cụ thể là chỉ gián tiếp được thấy chân dung Bác trên tấm tín phiếu. Để biểu lộ tình cảm trân trọng của mình đối với Bác Hồ kính yêu, họ luôn giữ gìn nâng niu những tờ giấy bạc Cụ Hồ nh một vật quý giá thiêng liêng nhất.

Bác Hồ đã từng khẳng định chân lý: "Đồng bào Nam bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi" Chính vì lẽ đó, mong mỏi và tin tuởng sẽ có ngày Bắc - Nam sum họp một nhà, mà bác Dực, bác Ưu và nhiều đồng bào Nam bộ khác đã dũng cảm quên cả tính mạng mình giữ lại những tờ giấy bạc, không phải để sau này đòi nợ cách mạng, mà lý do duy nhất là để tỏ tấm lòng tri ân với Bác.

Luật 10/59 của Mỹ - Diệm ban hành "Thà giết nhầm còn hơn bỏ sót". Cả miền Nam bao trùm không khí chết chóc. Nhà tù mọc lên khắp nơi. Biết bao gia đình tan tác cha mất con, vợ mất chồng... chỉ vì bị tình nghi trong nhà có hình Bác Hồ, hoặc liên quan đến Cách mạng. Vượt lên tất cả để hướng về Bác, hướng về miền Bắc thân yêu, người dân miền Nam đã cất dấu những tờ giấy bạc Cụ Hồ bằng nhiều hình thức: Bỏ vào ống sữa bò chôn xuống đất, bỏ vào ống tre trên mái nhà, trong ống cuốn vải, hoặc trong các đốt cây tre như Kim Đồng giấu thư trong đốt tre cần câu cá...

Ở đây xin kể về cách cất dấu của bác Ưu. Trong căn nhà tranh rách nát của mình chỉ có chiếc tủ thờ cũ kỹ và chiếc chông tre ọp ẹp. Bác Ưu nhìn trước ngó sau không biết nên để hình Bác ở nơi đâu để che mắt bọn mật thám, chỉ điểm và những cuộc lục soát bất ngờ. Bác thừa hiểu ràng nếu không cất giấu kỹ càng, tai họa sẽ ập xuống bất kỳ lúc nào. Suy đi nghĩ lại bác Ưu đã bỏ những tờ giấy bạc vào chai nút chặt rồi đem vào rừng chôn, nhưng bác vẫn chưa thật an tâm vì sợ thời gian, mưa nắng sẽ làm hư, mục, bác lại bí mật đào về chôn tại nhà. Bác Ưu kể rằng lâu lâu bác lại đem những tờ giấy bạc có hình Bác Hồ ra ngắm nghía, áp sát vào trái tim mình và thủ thỉ với Bác. Đến cuối năm 1977, bác Ưu đã tự nguyện đem những tờ giấy bạc đó tặng cho Nhà Bảo tàng Đồng Nai.

Ngày nay, những tờ giấy bạc ấy đã trải qua thời gian hơn nửa thế kỷ. Đồng tiền Bác Hồ đã luân phiên qua tay nhiều người, nhiều thế hệ nhưng đến nay tất cả còn rất phẳng phiu, rõ nét. Đó là tất cả tấm lòng của người dân miền Nam đối với Bác Hồ, và còn cả tấm lòng của người làm công tác bảo tồn - bảo tàng có trách nhiệm giữ gìn mai mai như một kỷ vật vô giá truyền lại cho thế hệ mai sau.

THÚY NGA

Cán bộ Bảo tàng Đồng Nai


 -----------------------------------------------

  Bình Sơn thương nhớ Bác

 

 

Trưa ngày 3/9/1969, cũng như cả nước, quân dân xã Bình Sơn (nay thuộc huyện Long Thành) nhận được tin đau đớn : Bác Hồ kính yêu đã ra đi. Tin Bác mất trở thành nỗi đau chung truyền đi trong rừng cao su lao xao,trong tiếng nấc, trong nước mắt, trong trái tim nối những trái tim...

Một bà má buông dao cạo, tay ôm lấy ngực nức nở bên gốc cao su. Nhựa trắng tuôn dòng qua đường cạo dở dang như khóc thương cùng má :

-Bình Sơn ...không còn được... đón Bác... vào thăm ... Bác ơi !

Bình Sơn là tên một ấp của xã Lộc An (Long Thành), từ năm 1910 trở thành một sở cao su thuộc Công ty đồn điền Đất Đỏ của tư bản thực dân Pháp. Binh Sơn đất rộng người thưa, có vị trí chiến lược quan trọng, có đường huyết mạch lưu thông với Bà Rịa - Long Khánh - Long Thành - Căn cứ Nước Trong cho nên cả Pháp và Mỹ đễu muốn canh giữ Bình Sơn như giữ lấy yết hầu của mình. Hơn nữa, với 2 vạn hecta đất mầu mỡ hợp với cao su, Bình Sơn được xem là miếng mồi ngon mà nanh vuốt của thực dân không bao giờ muốn từ bỏ. Bởi vậy, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Bình Sơn là địa bàn trọng điềm diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt giữa nhân dân cách mạng và đế quốc xâm lược. Đấu tranh càng, quyết liệt nhân dân Bình Sơn càng trung kiên, một lòng một dạ với Đảng và Bác Hồ.

Hơn ai hết, người dân Bình Sơn thấu hiểu sự tủi cực của nô lệ, và thấm thía ý nghĩa của bốn chữ "Độc lập, Tự do" Bác Hồ mang lại. Dân  Bình Sơn hau hết là công nhân cao su, xuất thân từ nông dân phá sản, người thất nghiệp ở miền Bắc, miền Trung theo lời mộ phu ngọt ngào của thực dân Pháp mà gắn mình vào vùng đất này. Những năm trước Cách mạng tháng Tám, kiếp sống người dân phu rất cay cực và tủi nhục trong roi vọt, bệnh tật, thiếu đói và tăm tối. Máu và nước mắt của công nhân từng thấm vào đất cao su, nhỏ giọt vào chén cơm ăn. Uất ức quá, nhiều anh chị em cầm dao liều mạng với bọn cai, xu ác nhơn; nhiều tổ bãi công để đòi quyền lợi, song, kết quả cuối cùng mang lại thường là sự ngược đãi nặng nê hơn dành cho các số phận lầm than.

Đến năm 1944, Chi bộ Đảng đâu tiên ở Bình Sơn được thành lập, có Đảng và Bác Hồ soi sáng nhân dân Bình Sơn mới biết hướng căm thù vào ai, làm thế nào để giành được độc lập tự do ?

Hồi đó, người Bình Sơn chưa ai hình dung được tầm vóc vĩ đại của Bác nhưng thảy đều cảm thấy Bác là vị cứu tinh, con người cao cả thu hút lòng ngưỡng vọng của mọi người.

Tháng 8 năm 1945, theo ngọn cờ của Bác, nhân dân Bình Sơn cướp chính quyền từ tay quân Nhật, tiếp đó là cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp tái chiếm và 20 năm chống Mỹ. Có Bác trong tim, nhân dân Bình Sơn đi từ không đến có, từ người nô lệ tủi cực trở thành đội quân cách mạng nổi tiếng đánh giặc quả cảm, mưu trí, lập được nhiều chiến công vang dội. Những lúc gian khổ, khốc liệt hay khi đạt thắng lợi vẻ vang, Bác luôn là niềm tin, là sức mạnh tinh thần của người Bình Sơn. Đội du kích Bình Sơn được tặng thưởng danh hiệu : Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - đó là kết quả của phong trào lập công dâng Bác. Các má, các ba, các anh chị và cả các em nhỏ dự phần vào cuộc chiến đấu chống Mỹ đều ấp ủ trong tim khát vọng làm theo lời Bác dạy, ước mong chóng đến ngày thắng lợi để đón Bác vào thăm.

Tháng 9 năm 1969, cao su đang mùa căng sữa; phong trào cách mạng Bình Sơn sau khi vượt qua phong ba, băo tố đang bước vào mùa "thu hoạch" mới thì đột ngột có tin Bác mất. Ước mong gặp Bác tưởng đến gần, thoắt biến thành nỗi đau mất mát.

Giữa lúc quân chư hầu Thái Lan càn quét ác liệt, Đảng ủy Ban cán sự cao su họp bất thường quyết định tổ chức lễ truy điệu Bác tương xứng với lòng tôn kính của nhân dân. Cái khó là làm sao tập họp được toàn dân trong khi xe tăng, máy bay, trọng pháo của địch đang giương sẵn khắp nơi?

Chiều ngày 3/9 kế hoạch truy điệu được thông qua. Cơ sở mật trong làng nhận nhiệm vụ đưa dân đến nơi tập kết an toàn. Một tổ công tác được cử đi Long Thành mua vải để may băng tang. Chị bán vải sùi sụt không lấy tiền, nói rằng : xin được góp phần vào lễ tang Cụ Hồ. Bó vải đã gói kỹ nhưng không qua mắt được tên cảnh sát ở trạm kiểm soát Bình Lâm:

- Mua vải trắng làm gì nhiều dữ vậy ?

- Về phát tang cha tôi.

- Đừng có láo, để tang Cụ Hồ phải không ?

Nói vậy nhưng tên cảnh sát không dám làm gì hơn vì đọc trong mắt đỏ hoe của các chị có nỗi niềm thương đau và sức mạnh không của riêng ai.

Đêm ấy, Bình Sơn chìm trong thinh lặng lạ thường. Bên trong những mái nhà ẩm thấp là những trái tim thổn thức, những đôi mắt nhòe lệ, những bàn tay run rẩy may băng tang dưới ánh đèn dầu. Má Phan Thị Dẫu nghe đài hai lần nhưng chưa tin sự thật nửa đêm má băng rừng ra "cứ" hỏi cặn kẻ:

- Người như thế mà "đi" thật rồi sao ?

Con má trả lời rằng, thật. Má thất vọng gào lên nức nở. Anh Mười dỗ má đừng khóc nhưng chính anh nước mắt cũng tuôn dòng.

Buổi sáng, xe chở dân ra lô như thường lệ. Đoàn xe nối nhau rú máy trước cặp mắt kiểm soát của lính Thái. Chúng không nhận ra rằng, hôm nay, dân cạo không mang theo thùng, dao. Mọi người đễu mặc đồ mới. Cán bộ cơ sở mặc quần áo màu đen. Cả trẻ em cũng tơm tất, nghiêm trang.

Xe không ra lô mà nối đuôi nhau đậu ở góc rừng lô 9110. Ở đấy, Ban Cán sự Đảng và các đơn vị đã tề tựu sẵn. Môt chiếc bàn ghép bằng cây rừng, trải ni-lông xanh, trên có ảnh Bác viền băng tang và lọ hoa rùng nhiều màu sắc. Cờ đỏ búa liềm và cờ giải phóng làm rạng rỡ gương mặt của Bác trong ảnh, trông thế không ai cầm được nước mắt.

Đến giờ hành lễ, gần một nghìn người dân và cán bộ xếp thành hai hàng nghiêm trang trước Bác. Trên ngực trái mỗi người là một dải băng tang trang trọng, nơi ấy có trái tim đang nhức nhối quặn đau. Có má quấn khăn trắng lên đầu, tay run run đốt nhang, miệng lầm rầm khấn vái đúng với nghi thức đối với tang lễ Cha già. Đồng chí Sáu Thống thay mặt Đảng ủy trích đọc điếu văn truy điệu Bác ghi từ Đài Hà Nội. Đồng chí đã cố gượng lắm rồi, nhưng chưa trọn câu, nước mắt,tiếng nấc đã bật ra. Không kìm được, tiếng khóc rền vang khu rừng. Chẳng còn ai nghe được gì nữa cả, lúc ấy tiếng khóc là câu chữ thành thật nhất nói hộ nỗi lòng thương nhớ Bác. Các em: Quyền, Chung, Hoan, Bình, Thắng... nổi tiếng là gan lì trong đội tự vệ mật ấy mà trong lễ truy điệu Bác gương mặt mỗi em đều não nề như  gà con lạc mẹ. Chị Đông, má Chín Ngạc từng cắn răng chịu đòn quyết không nhỏ lệ trước quân thù, nhưng với Bác, chị và má nỉ non mãi không thôi. Biết làm sao được! Mỗi người đều có cuộc đời riêng, tâm tình riêng, nhưng trước nỗi đau vắng Bác đâu có gì là của riêng mình.

Sau lễ truy điệu, dân theo xe ra về. Cán bộ cơ sở ở lại "cứ" để sinh hoạt tiếp tục về tuần lễ tang Bác. Bộ phim "Nối gió" vốn được háo hức đón chờ bỗng trở thành nhạt nhẻo trong nỗi đau quá lớn. Trong buổi sinh hoạt, Chi bộ Bình Sơn nhận định: lợi dụng tình hình tang Bác, địch sẽ mở đợt càn quét và khủng bố nhằm đe dọa tinh thân nhân dân. Bởi vậy, cán bộ cơ sở cần tiếp tục động viên nhân dân giữ vững tinh thần, vững lòng tin ở sự nghiệp của Bác Hồ, của Đảng.

Nhưng không cần nhiều đến lời động viên, dân Bình Sơn lặng lẽ tiếp tục công việc của mình. Mỗi nhà đều có một nơi trang trọng thờ Bác. Đêm đêm hương khói nghi ngút. Ảnh Bác được ngụy trang cẩn thận, nhưng có nơi như má Chín Chu thì không phải giấu đi đâu cả, lính ngụy vào hỏi, má đáp : "Ba tui đó, mấy cậu hỏi làm gì ? " . Trên chuyến xe đi Long Thành, cứ mười người thì có đến chín người quấn khăn tang. Một tên cảnh sát chặn xe lại hùng hổ:

- Tụi này cả gan dám để tang ông Hồ đi qua đây. Tao bắt nhốt hết.

Một chiếc xe lam khác đến, cũng thế. Tên cảnh sát nheo mắt :

- Tức thiệt ! Bắt người để tang ông Hồ thì chỗ đâu mà nhốt cho hết?

Rồi chuyện để tang Bác thành quen, giặc không buồn hỏi đến nữa vì biết chẳng thể nào ngăn được. Cho đến ngày giải phóng, trong nơi trang trọng nhất của gia đình, nhiều má còn cất giữ nguyên vẹn những tấm ảnh Bác đã hoen màu, những tờ bạc Cụ Hồ vô giá.

Nhớ Bác, không phải chỉ là chuyện để tang thương khóc, nhân dân Bình Sơn biết nén lòng để làm nên chiến thắng. Đến ngày giải phóng, nhiều người đã vĩnh viễn ra đi, nhiều người được tặng thưởng huân chương. Đội du kích Bình Sơn được tặng danh hiệu Anh hùng, có người giữ trọng trách trong chính quyền cách mạng, có người tiếp tục công việc của mình bên gốc cao su... Dẫu thế nào, mỗi người xuất thân từ phong trào cách mạng Bình Sơn đều không thể quên những năm tháng đấu tranh ác liệt luôn có Bác trong trái tim.

HUỲNH MINH CƯỜNG

 

-----------------------------------------------

 

Đưa cây cảnh từ miền Đông Nam Bộ ra trồng bên lăng Bác

Caycanhtrongbenlangbac.jpg
 

Ngày thống nhất được đón Bác vào thăm miền Nam - quê hương của "Thành đồng Tổ quốc", ước vọng thiêng liêng, niềm khao khát cháy bỏng đó của đồng bào chiến sĩ miền Đông Nam bộ cũng như đồng bào Đồng Nai chưa thực hiện được thì Bác đã đi xa.

Bác về yên nghỉ nơi cõi vĩnh hằng, nhưng hình ảnh của Người vẫn sống mãi với non sông đất nước, sống mãi với quê hương "Miền Đông gian lao mà anh dũng"

Tuy vậy nỗi xót xa, niềm ân hận chưa một lần được gặp Bác vẫn ray rứt hàng triệu trái tim của đồng bào chiến sĩ miền Nam, Đáp lại một phần nguyện vọng thiết tha đó, Trung ương chủ trương xây Lăng và bảo vệ lâu dài thi hài của Người để đồng bào miền Nam còn được gặp Bác sau ngày quê hương hoàn toàn giải phóng.

Cùng với cả nước, đồng bào chiến sĩ miền Đông Nam bộ trong hoàn cảnh còn đang chiến đấu quyết liệt với quân thù, vẫn dành tâm sức sưu tầm những hoa kiểng quý đưa về Thủ đô Hà Nội góp phần xây dựng lăng Bác.

Khắp các tỉnh miền Đông, hàng trăm chậu kiểng quý theo chân cán bộ, chiến sĩ, đồng bào, vượt bao thác ghềnh, qua bao đồn bót giặc đưa về tập kết ở chiến khu Đ.

Ở thị xã Biên Hòa ngay giữa trung tâm đầu não của giặc, bác Dương Văn Hảo (Tám Mộng) một cơ sở Cách mạng ở nội thành Biên Hòa đã bí mật chuyển bốn chậu kiểng quý có độ tuổi trên 100 năm (hai chậu mai chiếu thủy, hai chậu hoa sứ) lên Thủ Dầu Một, qua Củ Chi rồi từ đó đưa về chiến khu Đ.

Hàng trăm giò phong lan quý hiếm của núi rừng miền Đông theo vai các chiến sĩ giải phóng vượt qua bao lửa đạn cũng đưa đến địa điểm tập trung để gửi về tỏa hương bên Lăng Bác.

Mỗi chặng đường vận chuyển cây kiểng ra chiến khu là cả một quá trình đầy gian lao vất vả. Vấn đề bảo quản, chế độ bảo dưỡng hoa lá cũng vô cùng khó khăn, phức tạp. Thế nhưng với tình cảm thiêng liêng với Bác kính yêu, mọi trở lực đều không thể ngăn được quyết tâm và ý chí của đồng bào và chiến sĩ miền Đông.

Những tháng cuối năm 1974 hàng trăm chậu kiểng quý bằng nhiều ngả đường công khai và bí mật lần lượt được đưa về căn cứ của Khu ủy miền Đông.

Đầu tháng 12-1974, từ mảnh đất chiến khu Đ kiên cường bất khuất, đoàn xe chở cây kiểng quý bắt đầu chuyển bánh vượt núi rừng Trường Sơn ra Bắc.

Trong buổi lễ tiễn đưa, đồng chí Lê Đình Nhơn (Chín Lê) Phó Bí thư Khu ủy thay mặt quân dân miền Đông Nam bộ đã xúc động nói "... Hôm nay chúng ta cùng nhau làm lễ trọng thể tiễn đưa mấy xe cây non, bông kiểng quý này ra kịp xây lăng Bác vào dịp Tết trồng cây, một tập quán tốt đẹp do Bác đã sáng kiến và dầy công vun đắp. Những cây này sẽ vinh dự thay mặt đồng bào, cán bộ và chiến sĩ miền Nam, nguyện làm những chiến sĩ cận vệ trung thành nhất ngày đêm bên Bác. Cành lá xanh tươi này sẽ ôm ấp lăng Bác, Bác ngủ ngon lành. Màu xanh tươi này sẽ bất tử tươi xanh với non sông đất nước Việt Nam anh hùng..."

Hàng trăm cán bộ chiến sĩ miền Đông, đồng bào các dân tộc khu căn cứ Bàu Phụng, Tà Lài tham dự lễ đều nghẹn ngào xúc động nhìn lên tấm chân dung của Bác với tất cả nỗi lòng trìu mến thiết tha.

Ông Nguyễn Thành Long, Chủ tịch ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải  phóng khu Đông Nam bộ thay mặt đoàn nhận trách nhiệm đưa số cây kiểng quý này ra Hà Nội để kịp trỏng bên lăng Bác vào dịp Tết trồng cây.

Các đồng chí Lê Quang Chữ, Nguyễn Văn Hòa, Lê Sắc Nghi, Nguyễn Thị Bạch Tuyết và nhiều đồng chí lănh đạo của Khu ủy, ủy ban Mặt trận, các đoàn thể khu miền Đông Nam bộ đều tham gia nâng các chậu kiểng đưa lên xe, gửi gắm tấm lòng mình, tấm lòng kính yêu của toàn thể quân dân miền Đông về bên Bác.

Sau hơn một tháng hành trình vất vả, vượt gần hai ngàn cây số, qua bao ghềnh thác cheo leo, núi rừng hiểm trở, số cây kiểng quý đã về đến Hà Nội và kịp thời quây quần bên lăng Bác giữa độ xuân về.

Ngay sau khi đoàn xe chuyển bánh lên đường, tòan thể cán bộ, chiến sĩ và đồng bào miền Đông Nam bộ lại tiếp tục lao vào chiến dịch mùa khô 1974-1975 với quyết tâm giải phóng quê hương, thực hiện niềm mong ước của Bác Hồ trước lúc đi xa: "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào ", giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Và niềm ước vọng đó đã trở thành hiện thực trong ngày vui đại thắng 30-04- 1975.

TRẦN TOẢN

 

 

 

-----------------------------------------------

Bác Hồ trong đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân Đồng Nai
 

  Bachotrongdoisongvanhoatinhthan.jpg

Các vĩ nhân thường để lại những dấu ấn mạnh mẽ trong đời sống tinh thần của quốc gia, dân tộc. Nhưng, hiếm có lãnh tụ như Hồ Chí Minh, Người đã trở thành biểu tượng đẹp đẽ của mọi người Việt Nam.

Nhân dân Việt Nam tạc tượng Bác Hồ kính yêu trong lòng mình "Hơn tượng đồng phơi những lối mòn "(Tố Hữu). Hình ảnh Bác Hồ là nơi gặp gỡ, thống nhất niềm tin của cộng đồng các dân tộc; nhưng mỗi nơi, mỗi vùng, mỗi cộng đồng có cách nghĩ, cách hiểu của mình mang màu sắc phong tục tập quán của địa phương.

Nhân dân miền Nam không được may mắn đón Bác vào thăm. Dù chưa được tiếp kiến, dù ít có hiện vật lưu niệm, nhưng đồng bào miền Nam đã có trái tim, lòng tin và trí tưởng tượng đến với Người. Ở đây hình ảnh của Người thật lung linh, đẹp đẽ. Về mối quan hệ giữa Bác Hồ với miền Nam và miền Nam với Bác Hồ, sách báo viết đã nhiều; nhiều nhưng chưa đủ, chưa thỏa lòng. Có một niềm sâu thẳm trong tâm linh của người miền Nam hướng về Bác còn ít được biết đến.

Riêng đối với người Đồng Nai cũng vậy, Đồng Nai là máu thịt của miền Nam, có cùng tấm lòng và niềm tin của đồng bào miền Nam đối với Bác Hồ, trong đó cũng có những dáng nét riêng của vùng đất "Miền Đông gian lao mà anh dũng" cần được lưu ý.

Cộng đồng người Việt hình thành ở Đồng Nai cách đây khoảng 300 năm, do nhiều đợt di dân từ miền Bắc, miền Trung Việt Nam và Hoa Nam Trung Quốc. . . . với nhiều lý do khác nhau. Cuộc sống tha hương ở vùng đất mới, luôn phải đấu tranh với tự nhiên, với giặc ngoại xâm, khiến con người phải nương tựa nhau, cùng tìm chỗ dựa tinh thần trong cuộc sống. Người ta tin tưởng và thờ cúng tất cả những ai đem lại lợi ích, bình an cho cộng đồng: từ những vị phiếm thần, các "mẹ sanh mẹ độ" đến những anh hùng dũng sĩ mang theo từ cố hương hoặc nảy sinh từ bổn xứ. Cuộc sống nô lệ quá dài, quá khổ bởi thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ thôi thúc người Đồng Nai tìm đến một biểu tượng chung để mà tin mà sống và chiến đấu. Những Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Duy, Trương Định v.v... đã thất.bại trong kháng Pháp, nhân dân địa phương thương tiếc lập đền thờ nhưng lòng vẫn uất ức không nguôi và mong đợi một hình bóng khác có thể nương tựa, tin tưởng. Cho nên, khi xuất hiện hình ảnh Bác Hồ, người Đồng Nai vừa bắt gặp một lãnh tụ tài giỏi để mà theo, vừa chọn được một "nhân thần" để gởi gắm lòng tin. Khó mà phân biệt rạch ròi thái độ của người dân Đồng Nai đối với Bác Hồ; một mặt là sự tận hiến về vật chất theo lệnh của lãnh tụ để giải phóng dân tộc, một mặt là sự "nạp vào" những năng lượng tinh thần để xác lập niềm tin và những chuẩn mực giá trị mới trong đời sông tinh thần của mình: một bên là tư duy duy lý, một bên là tín ngưỡng dân gian. Hai mặt thúc đẩy, bồi đắp cho nhau thành sức mạnh lớn hơn khả năng hiện có.

Người dân Đồng Nai coi Bác Hồ là biểu tượng tinh thần không phải bắt nguồn từ mệnh lệnh, quyền uy mà xuất phát từ tấm lòng. Trước hết từ tấm lòng của Bác. Sự quan tâm, đồng cảm của Người khiến cho người Đồng Nai xúc động và từ đó khơi dậy những động lực tinh thần. Khi xa Tổ quốc, Người vẫn thấu hiều hoàn cảnh của phu làm muối ở Bà Rịa, cảm thông, chia sẻ "nỗi khổ nhục của người phụ nữ bản xứ" (1). Để bảo vệ lợi ích và danh dự của nhân dân Biên Hòa, Người vạch trần thủ đoạn lừa bịp của thực dân Pháp trong việc xây "Đài Kỷ niệm" gọi là "tưởng niệm các chiến sĩ vong thân vì mẫu quốc Đại Pháp".

Đêm 31/10/1964, quân dân Đồng Nai lập chiến công vang dội ở sân bay Biên Hòa, mười hai ngày sau, Bác có bài viết và thơ chung vui đăng báo Nhân dân:

… Uy danh lừng lẫy khắp năm châu

 Đạn cối tung cho Mỹ bể đầu

 Thành đồng trống thắng lay Lầu trắng

 Điện Biên Mỹ chẳng phải chờ lâu

Những nghĩa cử ấy chứng tỏ Bác Hồ vẫn luôn bên cạnh người Đồng Nai, rất gần gũi và cụ thể; trái tim Người hòa nhịp cùng niềm vui, nỗi lo của đồng bào. Tấm lòng của một lãnh tụ như vậy được nhân dân Đồng Nai trân trọng và sẵn sàng đền đáp. Người làm muối ở Bà Rịa luôn có bàn thờ Bác trong nhà kể cả lúc chiến tranh ly tán. "Đài Kỷ niệm" Biên Hòa do Pháp xây dựng vì mục đích mị dân được nhân dân bảo vệ, tôn tạo di tích để tưởng nhớ sự quan tâm của Người; bốn câu thơ  "Uy danh lừng lẫy năm châu... " được nhũ vàng lấp lánh trên Tượng đài Chiến thắng sân bay Biên Hòa như đã khắc sâu vào tâm trí mọi người.

Do không có điều kiện giao tiếp với Bác, nhất là trong hai cuộc kháng chiến, hình ảnh Bác Hồ tồn tại trong lòng người Đồng Nai chủ yếu qua lòng tin và trí tưởng tượng. Từ một số bức ảnh hiếm hoi trên báo, trên tín phiếu, từ lời kể của một ít người may mắn được gặp Bác, nhân dân Đồng Nai hình dung Bác Hồ là một "ông già tiên" với những đặc điểm ngoại hình đẹp nhất và hoàn hảo nhất. Thói quen thần thánh hóa nhân vật anh hùng của nhân dân đã dành cho Bác Hồ vẻ đẹp vừa "nhân tính" (ông già) vừa "thánh tính" (tiên), vừa thiêng liêng vừa gần gũi. Sách vở, tư liệu về Bác đến với người Đồng Nai chậm hơn con đường truyền khẩu. Những chuyện kể có thật về Bác được truyền khẩu, được dân gian hóa, được óc tưởng tượng của người bình dân thêu dệt thành những truyện kể, truyền thuyết khiến nhiều người thuộc lòng hình ảnh của Người, từ việc "ăn cháo bẹ rau măng" ở hang Pắc Bó đến thái độ ân cần đối với các anh hùng dũng sĩ và các cháu thiếu nhi miền Nam tập kết. Trong chiến khu hoặc ở vùng địch tạm chiếm, truyện kể về Bác Hồ luôn là một món quà quý báu. Khi kể chuyện về Bác cũng là khi người ta truyền cho nhau hơi ấm, sức mạnh và chí hướng theo con đường của Bác.

Nhân dân miền Nam nói chung, Đồng Nai nói riêng thường bị địch khủng bố, xuyên tạc, cách ly  với Cộng sản cho nên thông tin lý luận về cách mạng, về đấu tranh giải phóng dân tộc... nhiều khi mơ hồ, không đầy đủ. Những lúc ấy, hình ảnh Bác Hồ trong tim thay cho tất cả. Người như có mặt ở khắp mọi tấm lòng, trong mọi phút mọi giây, trong ngục tù, giữa pháp trường, bên công sự, bên bãi pháo... Những bà mẹ anh hùng xã Phước An (huyện Nhơn Trạch) tiễn chồng con đi tòng quân, lý lẽ rất đơn giản: đi theo Cụ Hồ là đi với cái đúng, không tiếc gì hết! Một chiến sĩ du kích ở chiến khu Đ bị lính Pháp mổ bụng vẫn không ly khai Cụ Hổ. Một em bé giao liên xã Lạc An (huyện Tân Uyên) bị bắn thả trôi sông tay vẫn ghì chặt ảnh Bác Hồ. Rất nhiều tấm gương hy sinh, trước khi trút hơi thở cuối cùng vẫn hô vang tên Bác. Ở xă Xuân Mỹ (huyện Long Khánh), có một con đường mòn dân gian gọi là đường Hồ Chí Minh bởi vì những chiến sĩ cách mạng qua con đường này đến bãi bắn thường gọi vang tên Người; đồng chí Ngô Bá Cao - Bí thư Tỉnh ủy Biên Hòa bị kết án tử hình năm 1959, chuẩn bị lên máy chém bằng niềm tin mãnh liệt ở Người:

Lời Bác còn đây dạ sắt son

Còn dân, còn Đảng còn non nước

Con vẫn bên cha mãi mãi còn...

(Nhớ Bác khi lãnh án tử hình)

Nhiều hình ảnh xả thân vì Tổ quốc, trung thành với lãnh tụ như thế kể ra không hiếm: đời nào, ở đâu cũng có. Điều đáng lưu ý ở đây là hình ảnh của lãnh tụ Hồ Chí Minh đã trở thành động lực bên trong để thúc đẩy con người hành động. Thực tế hình ảnh Bác Hồ từ cuộc đời thực đã đi vào sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của người Đồng Nai một cách tự nhiên và sinh động, chính ở đây mới thấy rõ nhất lòng dân đối với Bác Hồ.

Trong tâm thức của người Đồng Nai, Bác là hiện thân của cái đúng, cái đẹp, cái cao quý. Bác luôn ở phía trước để vươn đến nhưng cũng luôn ở bên cạnh để chia sẻ, bày tỏ. Bác vừa gieo ân đức cho gia đình (được thờ trong nhà), vừa là vị cứu tinh của dân tộc (được thờ cúng ở cộng đồng). Sự xa cách về không gian khiến cho người Đồng Nai trân trọng, thành tín đối với bất cứ hiện vật gì liên quan đến Bác Hồ. Chiếc đồng hồ Bác tặng đồng chí Lê Ngọc Bạch năm 1959 không chỉ là vật lưu niệm riêng của gia đình mà trở thành bảo vật của cộng đồng được rước vào lưu giữ trang trọng tại nhà Bảo tàng Đồng Nai. Thơ chúc Tết của Bác được các cụ già chép cẩn thận đặt ở án thờ. Thiếp chúc Tết có in thơ Bác năm 1968 và ảnh Bác. In trên báo từ năm 1949 được bác nông dân Nguyễn Văn Dực (xã Bình Lợi, huyện Vĩnh Cửu) cất gia và xem đó quý hơn sinh mạng của mình.  Má Nguyễn Thị Hầu ( xã Phước An, huyện Nhơn Trạch) "thờ sống Cụ Hồ" bằng một tờ tín phiếu có ảnh Bác. Tín phiếu cách mạng phát hành năm 1949 có in ảnh Bác được nhân dân Đồng Nai tin dùng, đến mức "còn sợi râu Cụ Hồ cũng xài".

Bàn thờ Bác trong nhà là hiện tượng phổ biến. Gia đình của người Việt ở Đồng Nai có tập quán thờ ông bà và những vị thần có liên quan đến bổn mạng của mình: Táo quân bảo trợ việc bếp núc, các nữ thần là mẹ sanh mẹ độ, ông địa , thần tài phụ trợ việc làm ăn... Từ khi Bác mất, nhiều gia đình có thêm bàn thờ Bác với ý nghĩa Bác vừa là Cha già, vừa là người đem hạnh phúc cho gia đình. Để tránh tai mắt địch, bàn thờ thường đặt ở giữa nhà như là thờ tổ tiên, có người dùng tín phiếu làm ảnh thờ như má Hầu - Phước An, có nhà viết tên Bác bằng chữ Hán vào bài vị để kín đáo đâu đó trên bàn thờ, đa phần thay hình ảnh tên tuổi bằng chữ Phước (Hán tự ) ngầm hiểu Bác Hồ bảo trợ cho phước đức của mọi người. Gia đình của một số ngụy quân cũng thờ và hương khói cho Bác. Có một hiện tượng dễ thấy: nhiều tên địch hống hách, ngổ ngáo réo tên cả quan thầy của chúng ra chửi , nhưng không hề dám xúc phạm đến tên tuổi Bác Hồ; có kẻ cúi đầu trước bàn thờ truy điệu Bác một cách thành kính. Sau ngày miền Nam giải phóng, việc thờ cúng Bác được công khai, ảnh Bác Hồ  thường được treo trang trọng phía trên bàn thờ chính trong nhà.

Trong sinh hoạt cộng đồng, người Việt ở Đồng Nai có thờ cúng những người có công lớn, đem lại lợi ích thiết thực cho dân làng. Ở đình thờ thành hoàng bổn cảnh, tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ... tuởng niệm những người đã khuất tuy khuyết danh nhưng có công với mảnh đất dân làng đang sống. Những anh hùng dũng sĩ có công đánh giặc, diệt thú dữ cũng được đưa vào thờ trong đình. Với quan niệm như thế, Bác Hồ vị cứu tinh của dân tộc rất xứng đáng được cộng đồng thờ cúng. Những năm chiến tranh việc thờ cúng Bác Hồ ở cộng đồng khó khăn hơn ở gia đình. Nhưng một số đình chùa vẫn kín đáo dành nơi trang trọng thờ Bác Hồ. Đình Long Thọ miếu Cây Vạn (huyện Nhơn Trạch) thờ Bác Hồ dưới hình thức bàn thờ Tiên sư. Chùa Bửu Phong (Biên Hòa) thờ Bác tượng trưng ở bàn thờ hậu tổ. Đình Phú Mỹ (xã Phú Hội, huyện Nhơn Trạch) có sáng kiến độc đáo, tạo 3 bức hoành phi với nội dung:

Hồ nhiên nhi thiên

Chí vọng thâm ân

Minh hoài hậu đức

Ba bức hoành phi này treo rời nhau ở chính điện, dân địa phương đọc 3 chữ đầu câu ngầm hiểu tưởng niệm Bác Hổ, nhưng ngụy quyền đến tế thân hàng năm chẳng thể phát hiện. Sau ngày thống nhất đất nước, việc thờ cúng Bác ở đình miếu được nhân rộng. Năm 1982, đình Hắc Lăng (huyện Châu Thành) làm lễ rước vong linh Bác Hồ và liệt sĩ đưa vào điện thờ, thờ cùng với các thần thánh bổn địa. Cách làm ấy được các đình khác học tập. Hiện nay, nhiều đình lập bàn thờ Bác Hồ ở chính điện xem như là một trong nhiều vị thần được phụng thờ.

Ở đền thờ Hùng Vương (Biên Hòa), Bác Hồ được thờ ở tiên điện như là vị Hùng Vương thứ 19. Ngày lễ chính của đền này là ngày 10/3 âm lịch (giỗ Tổ) và 19/5 dương lịch (sinh nhật Bác). Trong ngày lễ hội tại đền, trước bàn thờ Bác Hồ và Quốc tổ Hùng Vương có đủ thành phần: Đảng viên cộng sản, chính quyền địa phương, phật tử, giáo dân, có cả các chức sắc của Thiên chúa giáo và Phật giáo... Ở đây mối quan hệ đoàn kết toàn dân có chung hạt nhân là Quốc tổ, trong đó mặc nhiên Bác Hồ như là vị Quốc tổ thứ 19.

Người Việt gốc Hoa làm nông nghiệp tại Phú Hòa (Định Quán), Tân Phong (BiênHòa) sau ba mươi năm nghèo khó, từ năm 1990 mới vươn lên khấm khá, tổ chức được lễ cầu an theo phong tục cổ truyền. Lễ cầu an không phụ thuộc vào đình miếu, chùa chiền, không định kỳ, khi sung túc mới thực hiện nhằm tạ ơn thánh thần và cầu được mùa, phát đạt. Trong buổi lễ, cần có một chủ vương ngự ở chánh điện để chứng kiến và làm nhịp cầu nối những tấm lòng thành của dân với các đấng thần linh. Những lần trước, chủ vương được chọn là ông trời (Hoàng Thiên) hoặc Quan Thánh đế. Từ năm 1990, vị chủ vương được chọn là Bác Hồ. Ảnh Bác được rước vào chính điện, đặt ở ngôi chủ vương, hai bên là bài vị của 28 vị thần khác. Lý do chọn Bác Hồ làm chủ trương thật dễ hiểu: Chỉ có con đường của Bác Hồ mới dẫn đến đời sống khấm khá chưa từng có hôm nay.

Trong tâm trí của một số chức sắc phụ trách chùa Phật và nhà thờ Thiên chúa giáo ở Đồng Nai, lúc nào cũng có Bác Hồ bên cạnh giáo dân và phật tử Khi Bác mất, thông cáo của Hội nghị liên tịch giữa Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam và các tổ chức nhân dân được truyền đi, nhiều đình chùa ở Đồng Nai hưởng ứng, tổ chức truy điệu Bác bằng cầu siêu, cầu hồn ở chùa, nhà thờ thánh thất. Lễ cầu siêu ở chùa Long Thiền (tổ đình của Phật giáo ở Đồng Nai) có hàng nghìn người đến dự. Hòa thượng Thích Huệ Thành cho rằng: Bác Hồ có cốt cách và đức từ bi của Phật. Ni sư Huệ Hương (trụ trì chùa Bửu Phong) xem Bác Hồ như là một trong "những Giáo chủ của Phật giáo" và luôn nhang khói cho Người. Với linh mục Nguyễn Kim Đoan (giáo xứ Bùi Thượng) Bác Hồ có đức độ gần với Chúa sáng thế, ông luôn có ảnh Bác Hồ trên bàn làm việc và thường trích dẫn lời Bác Hồ để giáo huấn con chiên. Thực hiếm thấy một nhân vật lịch sử cùng được tôn vinh ở các tầng lớp nhân dân và ở các tôn giáo như vậy.

T.S HUỲNH VĂN TỚI

 

-----------------------------------------------

  Truy điệu Bác trong ngục Chí Hoà
 

Truydieubactrongnguctrihoa.jpg

Đêm ngày 1-9- 1968, tôi bị địch bắt trong lúc đang đi công tác. Bọn chúng đưa tôi về giam ở nhà lao Thủ Đức, sau đó chúng đưa về Biên Hòa, giao cho Ty cảnh sát trục tiếp thẩm vấn, tra khảo.

Bọn địch đã áp dụng nhiều cực hình tra tấn rất dã man, hòng khuất phục và buộc tôi phải khai báo những bí mật của tổ chức Cách mạng. Chúng đã chuyển tôi qua nhiều trại giam và đến tháng 8- 1969 chúng lại đưa về giam ở khám Chí Hòa. Tại đây tôi đã gặp nhiều chị em cùng hoạt động Cách mạng từ nhiều địa phương miền Nam, chẳng may sa vào tay giặc, dù bị cực hình tra tấn vẫn một lòng tin vào Đảng, Bác Hồ, tin vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp Cách mạng Việt Nam. Hình ảnh thiêng liêng và sâu nặng nghĩa tình, in đậm trong mỗi trái tim người cộng sản Việt Nam là hình ảnh Bác Hồ - vị Cha già kính yêu của dân tộc. Chính trong những lúc đứng trước những thử thách quyết liệt, mặt đối mặt với kẻ thù, hình ảnh Bác Hồ càng trở nên thiêng liêng, gần gũi, rực sáng như vì sao dẫn đường, có sức mạnh cổ vũ, khích lệ lòng dũng cảm, sự hy sinh không hề tiếc máu xương cho sự nghiệp Cách mạng của Đảng và ước mơ, hoài bão của Người. Nhiều anh chị em chúng tôi khi nghĩ về Bác Hổ, vẫn thường động viên nhau rằng: chúng mình ráng chịu đựng gian khổ, hy sinh, ráng phấn đấu để sớm được đón Bác vào thăm đồng bào miền Nam. Chính vì vậy mà dù sống trong ngục tù khắc nghiệt của kẻ thù, chúng tôi vẫn phơi phới niềm tin vào thắng lợi.

Sáng ngày 4-9- 1969, khác thường lệ, giám thị ngục Chí Hòa đến gõ cửa phòng giam chị em chúng tôi rất sớm, im lặng một lát, ông ta cất tiếng gọi:

- Các chị ơi, Bác Hồ mất rồi !

Mọi người nín lặng, một chị hỏi lại:

- Ông nói sao?

- Bác Hồ mất rồi !

- Ông đừng có tuyên truyền bậy, Bác Hồ của chúng tôi không mất - Chị ấy nói giọng cứng rắn, nhưng viên giám thị hạ thấp giọng, nói chậm và tỏ ra hơi buồn:

- Không có đâu chị ơi, Bác Hồ của chúng ta mất thật rồi mà! Các chị không tin, để tôi sẽ đưa báo vào cho các chị coi.

Một lát sau, viên giám thị trở lại và đưa vào cho chúng tôi một tờ báo có đăng tin: "Ông Hồ Chí Minh đã qua đời" chị em vừa chuyền cho mấy người xem, đã òa khóc nức nở? Tiếng khóc như bùng lên khắp nhà giam, tưởng như tất cả những người con cùng nhận được tin cha mẹ mình qua đời đột ngột. Nỗi đau lớn quá, không ai có thể ghìm nổi sự tiếc thương vô hạn đối với Người. Bọn cai ngục hầu như cũng hiểu điều đó, nên chúng làm lơ, để mặc chúng tôi khóc thương vị lãnh tụ vĩ đại của mình. Nhưng chúng tôi cũng kịp hiểu rằng: Trước mặt kẽ thù, không phải là những người phụ nữ yếu đuối. Chúng tôi phải làm gì để biến đau thương thành hành động Cách mạng, củng cố niềm tin và ý chí Cách mạng cho mình.

Theo chủ trương chung của ban lãnh đạo bí mật trong tù, ngày 5-9- 1969, từng phòng giam tổ chức truy điệu Bác. Chị em đã góp các thùng giấy đựng áo quần, đem kết lại làm bàn thờ, dùng vải trắng phủ lên, nhờ người mua bông, nến và nhang; dùng tay xé giấy dán thành khẩu hiệu: "Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại!". Phân công người soạn thảo điếu văn và công việc tiến hành lễ truy điệu. Hai chị Năm T. và Năm S đứng ra đảm nhận công việc này.

Lúc đau, bọn địch làm lơ, nhưng sau thấy chúng tôi chuẩn bị chu đáo quá, viên giám thị đến định không cho làm. Chị em chiến đấu, dọa tuyệt thực và thề quyết tử với chúng để bảo vệ bàn thờ và lễ truy điệu Bác nếu bọn chúng cố tình cản phá. Trước tình hình đó, bọn địch đành nhượng bộ và lễ truy điệu Bác Hồ được tổ chức trọng thể, thiêng liêng ngay trong ngục Chí Hòa. Trong buổi lễ, tất cả chị em chúng tôi đều vận đồ bà ba đen, đeo băng tang trên cánh tay trái. Không khí buổi lễ làm chúng tôi vô cùng xúc động. Người được phân công đọc điếu văn là chị Sáu Thanh, nhưng chị cũng bị xúc động, không thể nào đọc được, còn chị em chúng tôi thì hễ nghe chị Sáu cất giọng đọc nghẹn ngào, là không ai ghìm được tiếng khóc. Bài điếu văn phải ngưng lại mấy lần mới đọc xong. Sau phân đọc điếu văn, nước mắt đang dàn dụa, chúng tôi cùng hát bài "Quốc tế ca". Giọng hát chúng tôi bỗng âm vang rất lạ: "Vùng lên, hõi các nô lệ ở thế gian, vùng lên, hỡi ai cực khố bần hàn..."- Vùng lên! Lời hát như hỏi kèn xung trận, chúng tôi cảm thấy mình có sức mạnh ghê gớm, ai cang muốn lao lên, đối mặt với kẻ thù, thề quyết tử với chúng và nói cho chúng biết rằng: Bác Hồ của chúng tao không mất, Người mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho Cách mạng Việt Nam đến thắng lợi cuối cùng. Chúng bay đừng hòng nhìn thấy sự nao núng của những người Cộng sản kiên cường, từng được Bác Hồ và Đảng Cộng sản dắt dìu rèn luyện.

Sau buổi lễ truy điệu Bác Hồ ít lâu chúng tôi mới có được bản Di chúc của Người. Lại một lần nữa, nước mắt khóc thương Người tuôn chảy ướt đầm bản Di chúc, ướt đầm vai áo và thấm xuống nhà ngục. Đọc Di chúc của Người, chúng tôi đều thấy mình có lỗi vì chưa giải phóng được miền Nam để kịp đón Bác vào thăm đồng bào, đồng chí của Nam bộ Thành đổng.

Cũng từ hôm Bác mất, chị em chúng tôi bỗng thấy thương yêu nhau hơn, dễ cảm thông với nhau và tự thấy mình lớn lên, vững vàng, tự tin và sẵn sàng vượt qua mọi thử thách hy sinh đang chờ phía trước. Sau ngày Bác qua đời, nhiều chị em bị giặc đày ra Côn Đảo, tôi cũng thuộc số đó. Và, thực tiễn Cách mạng đầy những biến cố lịch sử đã trả lời khá đầy đủ cho ý nguyện thực hiện thành công Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ.

NGUYỄN THỊ CẨM Y

MINH DƯƠNG ghi

In nội dung
Các tin đã đăng ngày
Chọn một ngày từ lịch.